Tỉnh Quảng Ninh
MỘT SỐ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ- HỘI CHỦ YẾU
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
I. Mục tiêu tổng quát và nhiệm vụ chủ yếu
1. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục đẩy mạnh Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, là cầu nối thông thương giữa các nước ASEAN với Trung Quốc, một cửa mở lớn của Bắc Bộ, một khu vực phát triển năng động về kinh tế biển, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu trên cơ sở khai thác tối đa và hài hoà các nguồn lực trong tỉnh, trong vùng, trong nước và thu hút mạnh vốn đầu tư và công nghệ nước ngoài. Tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là các ngành chủ đạo, chuyển mạnh cơ cấu nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá và xuất khẩu. Tiếp tục ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chuẩn bị tiền đề tốt để phát triển nhanh hơn sau năm 2010.
Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển lĩnh vực xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác xoá đói giảm nghèo, đặc biệt ưu tiên vùng miền núi, hải đảo và các vùng đồng bào dân tộc ít người, trước hết là nâng cao dân trí và mức sống của nhân dân.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường và củng cố an ninh quốc phòng, đặc biệt làm chủ vùng biển đảo; giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tốt tài nguyên, môi trường, bảo đảm phát triển bền vững.
2. Nhiệm vụ chủ yếu
Một là, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn kế hoạch 5 năm trước và có bước chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nhanh hàm lượng công nghệ trong sản phẩm. Tạo bước tiến rõ rệt về chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, các doanh nghiệp; nâng cao vai trò của khoa học và công nghệ, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Hai là, tiếp tục thúc đẩy thực hiện việc xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời tiếp tục phát triển mạnh, không hạn chế quy mô các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Ba là, chủ động khẩn trương trong hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo được môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định thông thoáng... Mở rộng và nâng cao rõ rệt hiệu quả kinh tế đối ngoại; tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, thu hút vốn, công nghệ, đặc biệt công nghệ cao từ bên ngoài.
Bốn là, tăng nhanh vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng tăng nhanh hàm lượng khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế. Hoàn chỉnh một bước cơ bản về kết cấu hạ tầng; hỗ trợ đầu tư nhiều hơn cho các vùng còn nhiều khó khăn, vùng biển đảo, vùng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Năm là, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chú trọng nhân lực có trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học. Phát huy cao độ nội lực về khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho tiến trình công nghiệp, hiện đại hoá nền kinh tế của tỉnh và các địa phương. Tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường.
Sáu là, giảm nhanh tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn; đảm bảo xoá hộ đói, giảm nhanh số hộ nghèo theo chuẩn quốc tế, nhất là ở các vùng còn nhiều khó khăn, vùng biển đảo, vùng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển mạng lưới an sinh xã hội trợ giúp người nghèo; xây dựng kết cấu xã hội bền vững.
Bẩy là, tiếp tục phát triển sự nghiệp y tế, thể dục thể thao và văn hoá thông tin; cải thiện đáng kể các chỉ tiêu sức khoẻ cho người dân; phát triển nền văn hoá tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc; giải quyết có hiệu quả và cơ bản những vấn đề xã hội bức xúc, nhất là tình trạng tội phạm, ma tuý, HIV/AIDS và tai nạn giao thông. Tăng nhanh mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thực hiện bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ.
Tám là, đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực và trình độ đội ngũ cán bộ. Khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, công chức.
Chín là, thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị; bảo đảm trật tự kỷ cương trong các hoạt động kinh tế - xã hội.
II. Các phương án phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010
1. Phương án cơ bản
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm 2006 - 2010 đạt 13 - 14%/năm (tuy nhiên, những năm đầu kế hoạch tốc độ tăng trưởng có thể dưới 13%/năm), trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 17 - 18%, dịch vụ tăng 10 - 11%. Tỷ trọng đóng góp vào GDP của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là 7,5%.
Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010 dự kiến: nông, lâm, ngư nghiệp khoảng 4%; công nghiệp xây dựng 54%; dịch vụ 42%.
GDP bình quân đầu người năm 2010 (tính theo USD, giá hiện hành) khoảng 1.836 USD, bằng 1,68 lần so với mức trung bình của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và bằng 2,75 lần so với mức trung bình của cả nước.
Tổng vốn đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 cần khoảng 4.800 triệu USD (tương đương 75.360 tỷ đồng), gấp 1,51 lần so với thời kỳ 2001 - 2005.
2. Phương án phấn đấu
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm 2006 - 2010 đạt 15%/năm, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,1%; công nghiệp xây dựng tăng 15,1%, dịch vụ tăng 16,1%. Tỷ trọng đóng góp vào GDP của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là 8,5% vào năm 2010.
Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010 dự kiến: nông, lâm, ngư nghiệp khoảng 3,5%; công nghiệp xây dựng 46,5%; dịch vụ 50%.
GDP bình quân đầu người năm 2010 (tính theo USD, giá hiện hành) khoảng 1.992 USD, bằng 1,83 lần so với mức trung bình của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và bằng 2,99 lần so với mức trung bình của cả nước.
Tổng vốn đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 cần khoảng 5.100 triệu USD (tương đương 80.070 tỷ đồng), gấp 1,61 lần so với thời kỳ 2001- 2005.