Quá trình phát triển của Bộ KH&CN
Tóm tắt quá trình phát triển của Bộ Khoa học và Công nghệ
Các thời kỳ phát triển
I Thời kỳ 1958 - 1965
II. Thời kỳ 1966-1975
III. Thời kỳ 1976-1985
IV. Thời kỳ 1986-1992
V. Thời kỳ 1993-2002
VI. Thời kỳ 2002-nay
Tóm tắt quá trình phát triển của Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), tiền thân là Uỷ ban Khoa học Nhà nước (UBKHNN) được thành lập theo Sắc lệnh số 016-SL ngày 4/3/1959 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sự phát triển từ Uỷ ban UBKHNN sang Bộ KH&CN là một quá trình vừa hình thành, vừa xây dựng và hoàn thiện. Trong quá trình phát triển đó, nhận thức về nội dung và trách nhiệm quản lý về KH&CN ngày càng được nâng cao. Hoạt động quản lý KH&CN của Bộ đã phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và ngày càng có hiệu quả.
Giai đoạn 1959 - 1965, UBKHNN có chức năng bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật, đưa nền khoa học và kỹ thuật Việt Nam lên trình độ tiên tiến nhằm phục vụ sản xuất, dân sinh, quốc phòng, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở Miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Giai đoạn 1965 - 1975, UBKHNN được tách thành 2 cơ quan: Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (UBKH&KTNN) và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. UBKH&KTNN quản lý thống nhất và tập trung công tác khoa học và kỹ thuật và trực tiếp thực hiện chức năng của một Viện nghiên cứu về khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật nhằm thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ CNXH ở Miền Bắc, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Giai đoạn 1975 - 1985, đứng trước yêu cầu to lớn và cấp bách khi cả nước vừa xây dựng CNXH vừa phải đối phó với hai cuộc chiến tranh biên giới, khối nghiên cứu được tách khỏi Uỷ ban để thành lập Viện Khoa học Việt Nam. UBKH&KTNN lúc này chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước nhằm phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng.
Giai đoạn 1985 - 1992, giai đoạn của những thay đổi quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng về đổi mới và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Năm 1990, UBKH&KTNN được đổi tên thành UBKHNN, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhằm khuyến khích việc sáng tạo và ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kỹ thuật, đưa lại hiệu quả thiết thực cho thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Giai đoạn 1992 - 2002, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập trong bối cảnh đất nước thực hiện công cuộc đổi mới và chuẩn bị bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tiêu chuẩn hóa, sở hữu công nghiệp (SHCN) và bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước.
Từ tháng 8/2002 đến nay, Bộ KH&CN được thành lập theo Nghị quyết Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XI. Bộ KH&CN có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN, phát triển tiềm lực KH&CN; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; sở hữu trí tuệ (SHTT); năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thuộc Bộ quản lý.
Việc thành lập Bộ KH&CN trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển KH&CN, giúp Bộ tập trung hơn cho các nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN trong phạm vi cả nước, khẳng định vị thế và vai trò của Bộ trong việc điều phối và thúc đẩy các hoạt động KH&CN đóng góp tích cực cho phát triển nền kinh tế đất nước và hội nhập.
Trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Bộ KH&CN đã không ngừng khắc phục các khó khăn, phấn đấu thực hiện tốt nhất trọng trách của một cơ quan tham mưu, giúp Đảng và Chính phủ quản lý thống nhất về KH&CN trong phạm vi cả nước, và đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu bền bỉ, lâu dài của tập thể Lãnh đạo và đội ngũ các cán bộ, công chức của Bộ.
Thời kỳ Uỷ ban Khoa học Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và nghiên cứu khoa học- kỹ thuật (bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội) trong hoàn cảnh đất nước vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc vừa đấu tranh thống nhất nước nhà.
Năm 1958, Miền Bắc nước ta đã hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế và bắt đầu thực hiện nhiệm vụ cải tạo và phát triển kinh tế theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lúc này tình hình kinh tế và xã hội của Miền Bắc ổn định, sản xuất công nghiệp có tăng ( đã có 117 xí nghiệp quốc doanh và 60.000 công nhân), khoa học và kỹ thuật có phát triển ( đã có 8 Viện Nghiên cứu, 6 trường Đại học, một số trường Trung học chuyên nghiệp và khoảng 2000 cán bộ KHKT trình độ đại học). Phong trào cải tiến kỹ thuật của quần chúng công nông bắt đầu nảy nở. Mọi mặt có chuyển biến tốt, nhưng tình trạng lạc hậu vẫn chưa xoá bỏ được. Giá trị sản lượng công nghiệp mới chiếm gần 20% tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp. Năng xuất lao động còn thấp chất lượng sản phẩm chưa cao. Trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân còn thấp. Lực lượng KHKT còn nhỏ bé, trình độ còn hạn chế.
Đảng và Chính phủ quan tâm đến KHKT nhưng chưa định rõ đường lối, phương châm , nhiệm vụ cho các hoạt động KHKT, chưa có sự Lãnh đạo , quản lý tập trung, thống nhất đối với công tác KHKT. Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, cá thể, kỹ thuật lạc hậu, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng được các nước XHCN nhất là Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, chúng ta phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, như Hội nghị lần thứ 10 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá II và Đại hội Đảng lần thứ III đã khẳng định. Để thực hiện thành công ba cuộc cách mạng đó, chúng ta phải ra sức phát triển khoa học và kỹ thuật (cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội), đưa nhanh các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, đời sống và quốc phòng, mau chóng xây dựng một nền khoa học và kỹ thuật tiên tiến đủ sức tiếp thu được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và tự mình giải quyết được những vấn đề của đất nước, làm cơ sở cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.. Phải lãnh đạo, quản lý tốt khoa học và kỹ thuật ngay từ khi bắt đầu triển khai xây dựng, mới có thể phát triển nhanh chóng, đúng hướng, có hiệu quả và ít tốn kém . Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14của BCH TƯ Đảng khoá II đã nhấn mạnh vai trò của khoa học và kỹ thuạat, yêu cầu Đảng phải nắm vững lãnh đạo khoa học và kỹ thuật và sự cần thiết phải thành lập Uỷ ban khoa học Nhà nước.
Chính vì thế mà cuối năm 1957, Ban Bí thư và Hội đồng Chính phủ đã cử một đoàn khoa học Việt Nam, do ông Hà Huy Giáp Trưởng tiểu ban Giáo dục Khoa học Trung ương làm trưởng đoàn và ông Tạ Quang Bửu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Giám đốc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội làm phó trưởng đoàn đi tham quan tìm hiểu tình hình khoa học và kỹ thuật và kinh nghiệm tổ chức, quản lý công tác khoa học và kỹ thuật của Trung Quốc trong thời gian 2 tháng Quốc hội khoá I, trong phiên họp ngày 29/4/1958 kỳ họp thứ 8, đã quyết nghị thành lập Uỷ ban Khoa học Nhà nước để giúp Chính phủ xây dựng và phát triển khoa học và kỹ thuật..
Sau khi có nghị quyết của Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ đã cử Ban trù bị do ông Tạ Quang Bửu làm trưởng ban để xúc tiến việc thành lập UBKHNN - Ban trù bị dự thảo đề án về đường lối, phương châm, nhiệm vụ trước mắt của khoa học Việt Nam và đề án về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của UBKHNN đã tổ chức hội thảo để trưng cầu ý kiến của 50 nhà khoa học và kỹ thuật tiêu biểu trong nước và ngày 20/11/1958 đã trình các đề án lên Ban bí thư và Hội đồng Chính phủ. Ngày 11/12/1958, Hội đồng Chính phủ (HĐCP) đã thông qua các đề án này và cử các thành viên của UBKHNN. Quốc hội , trong phiên họp ngày 14/12/1958 đã cử Phó Thủ tướng Trường Chinh kiêm chức Chủ nhiệm đầu tiên của Uỷ ban khoa học Nhà nước.
UBKHNN bắt đầu hoạt động từ tháng 11/1958. Vài tháng đầu, mới có ông Tạ Quang Bửu, ông Lê Khắc và 5 cán bộ nhân viên làm việc ở ngôi nhà số 38 Phố Ngô Quyền, hiện là trụ sở của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ. Ngày 4/3/1959, thừa uỷ quyền của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ ký sắc lệnh số 016/SL chính thức thành lập UBKHNN. Theo sắc lệnh UBKHNN có trách nhiệm và quyền hạn ngang Bộ, có nhiệm vụ chung là "giúp Chính phủ xây dựng và lãnh đạo công tác khoa học về mọi mặt nhằm phục vụ sự nghiệp kiến thiết XHCN ở miền Bắc, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà và sự nghiệp hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc" và gồm có chủ nhiệm, một số phó chủ nhiệm, tổng thư ký và một số uỷ viên. Ngày 4/4/1962, HĐCP ban hành Nghị định 43-CP quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBKHNN.A. chức năng, nhiệm vụ của UBKHNN :
Theo Nghị định 43-CP, "UBKHNN là cơ quan của HĐCP có trách nhiệm quản lý công tác khoa học và kỹ thuật theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật, đưa nền khoa học và kỹ thuật Việt Nam lên trình độ tiên tiến nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà". UBKHNN có những nhiệm vụ:
1. Nghiên cứu trình HĐCP ban hành các chính sách, chế độ, thể lệ về khoa học và kỹ thuật, tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ ấy.
2. Nghiên cứu trình HĐCP phê chuẩn phương hướng, kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật của Nhà nước. Tổ chức việc điều hoà phối hợp công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật giữa các Bộ, các ngành, các cấp nhằm thực hiện những phương hướng kế hoạch ấy.
3. Hướng dẫn các Bộ, các ngành, các địa phương xây dựng và phát triển lực lượng nghiên cứu khoa học. Xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học trực thuộc Uỷ ban để tiến tới thành lập Viện Khoa học Việt Nam.
4. Tổ chức việc tổng kết những công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật lớn, xác minh kết quả của các công trình nghiên cứu ấy và đề ra kiến nghị để các ngành, các địa phương phổ biến và thực hiện.
5. Theo dõi, hướng dẫn các Bộ, các ngành, các địa phương trong công tác quản lý kỹ thuật và phổ biến khoa học và kỹ thuật.
6. Theo dõi tình hình đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật. Xây dựng chế độ đào tạo nghiên cứu sinh (NCS) và theo dõi việc thực hiện chế độ ấy.
7. Thi hành các hiệp định hợp tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật mà nước ta đã ký kết với nước ngoài. Trong phạm vi được uỷ quyền của Chính phủ, ký kết với các cơ quan khoa học và kỹ thuật nước ngoài các hiệp định về hợp tác khoa học và kỹ thuật.
8. Quản lý tổ chức, cán bộ, biên chế, lao động tiền lương, tài vụ, vật tư, kiến thiết cơ bản của UBKHNN theo chế độ chung của Nhà nước.
B. Cơ cấu tổ chức của UBKHNN :1. Cơ quan lãnh đạo của UBKHNN là 1 tập thể gồm 21 thành viên, hầu hết là cán bộ lãnh đạo các cơ quan, đoàn thể cấp trung ương kiêm nhiệm, đại đa số là cán bộ khoa học và kỹ thuật tiêu biểu.
Chức vụ chủ nhiệm Uỷ ban do các Phó Thủ tướng Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh lần lượt đảm nhiệm (ông Trường Chinh 12/1958-7/1960, ông Võ Nguyên Giáp 7/1960-1/1963, ông Nguyễn Duy Trinh 1/1963- 10 /1965).
Các Phó chủ nhiệm Uỷ ban:
- Ông Bùi Công Trừng, nhà kinh tế học, Chủ nhiệm Văn phòng kinh tế Phủ Thủ tướng.
- Ông Tạ Quang Bửu, nhà toán học, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Giám đốc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
- Ông Nguyễn Xiển, kỹ sư, Giám đốc Nha khí tượng, Bộ trưởng Bộ Cứu tế - xã hội
- Ông Nguyễn Khánh Toàn, nhà sử học, Thứ trưởng Bộ Giáo dục (từ năm 1960)
- Ông Trần Quang Huy, Phó trưởng ban tuyên giáo trung ương(1959-1960).
Các Uỷ viên uỷ ban
- Ông Lê Khắc, kỹ sư cầu đường, uỷ viên chuyên trách của UBKHNN
- Ông Nghiêm Xuân Yêm, kỹ sư canh nông Bộ trưởng Bộ Nông Lâm
- Ông Trần Đại Nghĩa, kỹ sư, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng
- Ông Phạm Văn Bạch, tiến sĩ luật, Chánh án Toà án tối cao
- Ông Hồ Đắc Di, bác sĩ y khoa, Giám đốc Trường Đại học Y khoa Hà Nội
- Ông Phạm Ngọc Thạch, bác sĩ y khoa, Bộ trưởng Bộ Y tế
- Ông Trần Đăng Khoa, kỹ sư cầu đường, Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi.
- Ông Trần Huy Liệu, nhà sử học, Uỷ viên thường trực Quốc hội, Viện trưởng Viện Sử học
- Ông Lê Văn Thiêm, tiến sĩ toán học, Chủ nhiệm khoa khoa học tự nhiên, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
- Ông Nguyễn Văn Huyên, tiến sĩ văn khoa, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
- Ông Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hoá.
- Ông Bùi Quang Tạo, Bộ trưởng Bộ kiến trúc
- Ông Nguyễn Văn Trân, Phó chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước
- Ông Hoàng Văn Thái, Trung tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn Bộ Quốc phòng
- Ông Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
- Ông Nguyễn Lam. Bí thư thứ nhất BCHTW Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh
Giúp Uỷ ban thường xuyên chỉ đạo mọi mặt công tác của Uỷ ban có Ban thường trực gồm các ông Bùi Công Trừng, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Lê Khắc. Giúp Uỷ ban điều hành công việc hàng ngày có Tổng thư ký và phó tổng thư ký: Ông Tạ Quang Bửu là phó chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký, ông Chu Văn Biên là phó tổng thư ký.2. Các cơ quan quản lý KHKT có :
a) Các Ban khoa học là cơ quan giúp Uỷ ban quản lý công tác khoa học và kỹ thuật của các bộ, ngành đồng thời xây dựng, chỉ đạo các cơ sở nghiên cứu trực thuộc Uỷ ban. Mỗi ban khoa học thành lập một số Tiểu ban hoặc tổ chuyên ngành để thực hiện các nhiệm vụ tham mưu và quản lý của Ban đối với từng ngành khoa học và kỹ thuật, và một số tổ chuyên đề để phối hợp lực lượng nghiên cứu một số vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cơ quan KHKT. Các Ban khoa học, các Tiểu ban, tổ chuyên ngành là những hình thức tổ chức tập hợp những nhà khoa học và kỹ thuật có trình độ, có kinh nghiệm của các ngành. Mỗi Ban khoa học có một thư ký vụ là bộ máy làm việc thuộc biên chế của UBKHNN để giúp Ban điều hành công việc hàng ngày. Đầu năm 1959, UBKHNN có 5 Ban khoa học: Ban khoa học xã hội, Ban khoa học cơ bản, Ban khoa học kỹ thuật, Ban khoa học nông nghiệp, Ban Y học. Quý 3/1959, Uỷ ban lập thêm Ban điều tra cơ bản. Qua thực tế công tác, thấy không thể quản lý tách rời công tác điều tra cơ bản các điều kiện và tài nguyên thiên nhiên với công tác nghiên cứu khoa học về sinh học và địa học nên sang năm 1960, Uỷ ban tổ chức lại Ban khoa học cơ bản và Ban điều tra cơ bản thành Ban toán lý hoá và Ban sinh vật địa học. Đến năm 1962, Ban toán lý hoá lại được phân thành Ban toán lý và Ban hoá học, việc quản lý mọi công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật về hoá học được tập trung thống nhất vào Ban Hoá học.
b, Viện đo lường và tiêu chuẩn, thành lập năm 1962 để giúp Uỷ ban tổ chức, chỉ đạo các công tác tiêu chuẩn hoá và quản lý đo lường đang trở lên cấp thiết đối với yêu cầu phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá, phát triển khoa học - kỹ thuật.3. Các cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật có :
- Viện Văn học thành lập tháng 1 năm 1959 (tách từ Ban Nghiên cứu văn - sử - địa)
- Viện Sử học thành lập tháng 1/1959 (tách từ Ban nghiên cứu văn - sử - địa)
- Viện Kinh tế thành lập tháng 3/1959
- Tổ Triết học thành lập tháng 8/1959 đến tháng 5/1964 được quyết định thành Viện Triết học
- Tổ Luật học, thành lập tháng 10/1959
- Phòng Ngôn ngữ học thành lập năm 1964
- Phòng Dân tộc học thành lập năm 1964
- Đội khảo cổ học, từ Bộ Văn hoá chuyển sang Uỷ ban năm 1964
- Trạm nghiên cứu Biển thành lập tháng 2 năm 1961
- Trạm kỹ thuật nhiệt đới hoá và các bộ phận nghiên cứu toán lý, sinh vật, địa học, ra đời năm 1961 nhằm chuẩn bị cho việc thành lập Viện liên hợp nghiên cứu khoa học do Liên Xô giúp xây dựng 1 cách toàn diện (thiết kế, giám sát thi công, cung cấp thiết bị toàn bộ, đào tạo cán bộ) với ý định sau một thời gian phát triển sẽ tách ra thành nhiều Viện nghiên cứu chuyên ngành. Trụ sở của Viện xây dựng dở dang, đến 1965 phải tạm hoãn do chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ.
- Năm 1962, Uỷ ban còn lập Phòng nghiên cứu hoá học nhưng đến tháng 5/1964 Phòng được chuyển sang Bộ Công nghiệp nặng, và sáp nhập vào Viện Hoá học của Bộ.
4. Các cơ quan quản lý và hành chính sự nghiệp khác :
+ Năm 1959 có :
- Thư Viện khoa học trung ương (Thư viện này vốn là thư viện của Trường Viễn đông Bác Cổ Pháp do Bộ Giáo dục tiếp quản năm 1957 và chuyển sang Uỷ ban tháng 1/1959).
- Một số Phòng trực thuộc UBKHNN do Tổng thư ký và Phó tổng thư ký trực tiếp chỉ đạo (Phòng kế hoạch khoa học, Phòng tổ chức - cán bộ, Phòng liên lạc quốc tế, Phòng biên dịch, Phòng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, Phòng hành chính - quản trị, Phòng Tài vụ, Phòng khí tài - vật tư).
+ Từ năm 1960, thành lập : Vụ Tổ chức - cán bộ, với chức năng giúp Uỷ ban xây dựng, quản lý tổ chức và cán bộ của Uỷ ban, đồng thời theo dõi tình hình tổ chức và cán bộ khoa học và kỹ thuật trong nước, nghiên cứu chính sách, chế độ đối với cán bộ khoa học và kỹ thuật và Văn phòng Uỷ ban (trong có Phòng kế hoạch khoa học và Phòng khoa học kỹ thuật địa phương). Các phòng trực thuộc Uỷ ban chỉ còn Phòng liên lạc quốc tế, Phòng thông tin khoa học và kỹ thuật ( thành lập tháng 8/1961) lúc đầu trực thuộc Uỷ ban, sau chuyển sang TVKHTW để tiện khai thác, sử dụng kho Thư viện, đến tháng 7/1964 lại chuyển về trực thuộc Uỷ ban), phòng thuật ngữ khoa học và kỹ thuật, Nhà xuất bản khoa học (ngoài Nhà xuất bản khoa học trực thuộc Uỷ ban, còn có Nhà xuất bản văn học chuyển từ Bộ văn hoá sang Viện văn học và Nhà xuất bản sử học trực thuộc Viện sử học) và Bộ phận thường trực Hội đồng giám định sáng kiến phát minh.C. Những chủ trương và hoạt động của UBKHNN :
Căn cứ vào phương châm, nhiệm vụ trước mắt của khoa học Việt Nam và chức năng, nhiệm vụ của UBKHNN đã được HĐCP thông qua ngày 4/12/1958, trong phiên họp toàn thể Uỷ ban lần thứ nhất ngày 18/12/1958 và phiên họp bất thường ngày 15/1/1959, Uỷ ban đã quyết định mấy công tác lớn trước mắt của Uỷ ban là:
a) Xây dựng bộ máy của Uỷ ban theo nguyên tắc trước nhỏ sau lớn, trước hợp sau phân, trọng chất hơn lượng, không hình thức
b) Tổ chức, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch nghiên cứu, áp dụng khoa học và kỹ thuật, trước hết là kế hoạch khoa học và kỹ thuật 2 năm 1959 - 1960, chú trọng quản lý mấy vấn đề khoa học và kỹ thuật chung và lớn của kế hoạch
c) Tổ chức chỉ đạo công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật và phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật là 2 công tác lớn, quan hệ mật thiết với nhau
d) Nắm tình hình lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật đã có và đang đào tạo để có cơ sở cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Giáo dục đặt kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cho sát yêu cầu phát triển khoa học và kỹ thuật
e) Phát triển quan hệ hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ về khoa học và kỹ thuật của các nước XHCN anh em.
1. Thời kỳ này, được Ban bí thư và HĐCP quan tâm, được các cơ quan hữu quan đồng tình, ủng hộ, Uỷ ban đã xây dựng được bộ máy quản lý, nghiên cứu, hành chính sự nghiệp của mình tương đối hợp lý, theo đúng phương châm trước nhỏ sau lớn, trước hợp sau phân . Biên chế được tăng tương đối nhanh từ 7 người cuối 1958, 274 người cuối 1959 lên 828 người tháng 5/1965. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật đã tập hợp được đông đảo cán bộ khoa học và kỹ thuật có trình độ, có kinh nghiệm của các ngành tham gia các công tác tham mưu và quản lý của Uỷ ban, tham gia thực hiện một số công tác điều tra nghiên cứu thuộc kế hoạch khoa học và kỹ thuật của Nhà nước. Các cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật đều là những cơ sở cần thiết, cần xây dựng trước tiên đối với một nước độc lập, đang phát triển, và đều đã cố gắng tổ chức thực hiện có kết quả một số đề tài về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật thuộc kế hoạch khoa học và kỹ thuật của Nhà nước. Các cơ quan phục vụ khoa học và kỹ thuật đã đảm bảo được khối lượng công tác phục vụ quản lý và nghiên cứu ngày một tăng nhanh.
2. Tham khảo kinh nghiệm kế hoạch hoá công tác khoa học và kỹ thuật của Trung Quốc, đầu năm 1959, Uỷ ban đã cố găng tổ chức xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật 2 năm 1959 - 1960 tập trung vào một số công tác quan trọng nhất, không yêu cầu đầy đủ mọi ngành, mọi mặt nhằm phục vụ kịp thời cho kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế 3 năm 1958 - 1960 của Nhà nước. Từ tháng 6/1960 đến tháng 3/1961, Uỷ ban đã tổ chức xây dựng chương trình phát triển khoa học và kỹ thuật dài hạn trong vòng 15 năm và kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5 năm 1961-1965 nhằm phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế - văn hoá 5 năm đầu tiên của Nhà nước và chuẩn bị phục vụ một phần cho kế hoạch tiếp theo. Uỷ ban đã căn cứ vào các đặc điểm tình hình tự nhiên , kinh tế , xã hội, KH- KT của Miền Bắc và các yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh, quốc phòng, đấu tranh thống nhất nước nhà mà đề nghị những phương châm phát triển KHKT, những nhiệm vụ lớn về nghiên cứu KHKT, phát triển tiềm lực KHKT và hợp tác quốc tế về KHKTtrong vòng 15 năm tới. Ngoài 4 phương châm đã trình Ban Bí thư và HĐCP hồi tháng 11/ 1958:
- Lý luận liên hệ vói thực tiễn.
- Khoa học phải đi theo đường lối quần chúng
- Khoa học phải có kế hoạch
- Phải học tập các nước anh em và tận dụng sự giúp đỡ của các nước anh em.
Lần này Uỷ ban còn đề nghị thêm phương châm kết hợp trước mắt với lâu dài. Tháng 4/1961 các dự án phát triển KHKT dài hạn và 5 năm 1961 - 1965 được Uỷ ban đưa sang Liên Xô để tham khảo ý kiến của Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Liên Xô và các Viện Hàn lâm Liên Xô (Viện Hàn lâm khoa học, Viện Hàn lâm nônghọc Viện Hàn lâm y học) các dự án được chỉnh lý lại, đến tháng 12/1961 thì hoàn thành. Trên cơ sở chương trình dài hạn và kế hoạch 5 năm đó, Uỷ ban đã hướng dẫn xây dựng và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm 1 cách đều đặn, trong đó Uỷ ban tổ chức thực hiện một số công tác điều tra nghiên cứu quan trọng liên quan đến nhiều cơ quan kể cả các cơ quan nghiên cứu của Uỷ ban. Thời kỳ này, kế hoạch KHKT mới tổng hợp các công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học, chưa tổng hợp các điều kiện thực hiện kế hoạch. Tuy nhiên, Uỷ ban đã họp liên tịch với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước để bàn định việc phối hợp giữa 2 Uỷ ban trong xây dựng kế hoạch KHKT gắn với kế hoạch phát triển KTQD, phục vụ kế hoạch phát triển KTQD và tạo điều kiện vật chất để thực hiện kế hoạch KHKT. Một số công tác điều tra nghiên cứu, thí nghiệm của kế hoạch khoa học và kỹ thuật đã thu được kết quả đáng kể như nghiên cứu, thí nghiệm về thời vụ, giống, tưới, bón, phòng trừ sâu bệnh phục vụ thâm canh tăng năng suất lúa và hoa màu, về cải tạo đất bạc màu, chống xói mòn bảo vệ đất đồi núi, về khoan nổ mìn, nhiệt luyện than gầy, về chế tạo một số máy công cụ và phát lực, máy và linh kiện vô tuyến điện, về nhiệt đới hoá thiết bị điện, điện tử và quang học, về chống rung cho máy Lô-cô, máy bơm công suất lớn, về các biện pháp vượt sông thời chiến... đã hoàn thành điều tra tổng hợp vùng biển Vịnh Bắc bộ, phân vùng địa lý tự nhiên miền Bắc Việt Nam, lập bản đồ dân số và dân tộc của từng tỉnh, thành phố và của toàn miền Bắc, đo đạc mạng lưới trắc địa hạng I, hạng II và chụp ảnh địa hình miền Bắc bằng máy bay, điều tra nguồn lợi cá của Vịnh Bắc Bộ, sông Hồng, sông Đáy. Đang xúc tiến các công tác điều tra tổng hợp lưu vực hệ thống sông Hồng, lập bản đồ địa chất tỷ lệ lớn cho 5 vùng của miền Bắc, điều tra tài nguyên thực vật (cây thuốc, cây có dầu, rong biển, cây phân xanh và thức ăn gia súc...) điều tra có hệ thống về chim thú rừng, ký sinh trùng và côn trùng hại cây trồng. Thời kỳ này, Uỷ ban cũng đã chú ý đến công tác bảo vệ thiên nhiên; ngoài việc nghiên cứu thí nghiệm chống xói mòn, bảo vệ đất đồi núi, đề nghị khai thác, sử dụng hợp lý phục hồi tài nguyên thiên nhiên. Uỷ ban còn tổ chức khảo sát, lập bản đồ và tiến hành các thủ tục cần thiết để đề nghị bảo vệ khu rừng Cúc Phương làm khu dự trữ thiên nhiên phục vụ nghiên cứu về sinh vật học và lâm học. Uỷ ban đã tổ chức nhiều Hội nghị KHKT quan trọng nhằm tổng kết tình hình và phổ biến kết quả nghiên cứu như Hội nghị cơ khí toàn miền Bắc, Hội nghị chống xói mòn, bảo vệ đất đồi núi, Hội nghị cơ học đất và nền móng, v.v...
Về Khoa học xã hội, ngoài triển khai việc nghiên cứu biên soạn 4 công trình khoa học cơ bản là Lịch sử Việt Nam, Lịch sử văn học Việt Nam, từ điển tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt, còn dịch song thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, tập thơ Ngục Trung ký sự của Hồ Chủ Tịch, biên soạn xong cuốn lịch sử thủ đô, đã nghiên cứu đặc điểm của chế độ phong kiến Việt Nam, của giai cấp tư sản Việt Nam, đã viết mấy cuốn về cải tạo công thứơng nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp, địa lý kinh tế Miền Bắc và về chuyên chính vô sản, về Triết học phản động ở Miền Nam Việt Nam v.v...
3. Từ đầu năm 1959, Uỷ ban đã đề nghị HĐCP ban hành chỉ thị số 105-TTg ngày 11/3/1959 và chỉ thị số 320-TTg ngày 15/12/1960 về tổ chức và lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến phát minh của quần chúng, đã cùng Tổng công đoàn và Ban thi đua TW nghiên cứu đề nghị HĐCP ban hành điều lệ khen thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất theo Nghị định số 20-CP ngày 8/2/1965. Uỷ ban đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng kỹ thuật, Hội đồng KHKT Bộ, Tổng cục, của Vụ kỹ thuật, Vụ KHKT Bộ, Tổng cục, của Ban kỹ thuật, Ban KHKT Tỉnh, Thành phố để giúp ngành và địa phương thúc đẩy phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và quản lý công tác khoa học và kỹ thuật của ngành và địa phương. Năm 1964, Hội đồng xét duyệt sáng kiến Trung ương đã được thành lập. Bộ phận thường trực của Hội đồng thuộc biên chế của Uỷ ban. Uỷ ban cũng đã hướng dẫn các ngành, các cấp thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến của ngành, của cấp tương ứng. Đã tổ chức một số hội nghị chuyên đề để trao đổi kinh nghiệm và sáng kiến. Cố gắng của Uỷ ban đã góp phần làm cho phong trào sáng kiến phát triển khá nhanh với các phong trào thao diễn kỹ thuật, 3 điểm cao trong công nghiệp và giải phóng đôi vai, làm bèo hoa dâu trong nông nghiệp. Tuy nhiên, do tổ chức và lực lượng giúp Uỷ ban quản lý chỉ đạo công tác này còn yếu nên có ảnh hưởng nhất định đến phong trào phát triển không đều, đến việc xác minh và phổ biến sáng kiến không kịp thời.
Để đáp ứng yêu cầu cấp bách về nâng cao hiểu biết khoa học và kỹ thuật của quần chúng, tháng 5/1959, Ban vận động thành lập Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam được thành lập. Uỷ ban lãnh đạo Ban này một mặt chuẩn bị tổ chức Đại hội thành lập Hội toàn quốc và thúc đẩy việc thành lập tổ chức Hội ở địa phương, một mặt triển khai công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật bằng nhiều hình thức. Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam chính thức thành lập ngày 19/5/1963 do ông Nguyễn Xiển làm chủ tịch, các ông Vũ Đình Tụng, Đặng Minh Trứ , Lê Duy Văn làm Phó chủ tịch. Mạng lưới tổ chức phát triển rộng khắp các tỉnh, thành, xuống huyện, xuống cơ sở sản xuất. Hội tập trung tuyên truyền phổ biến những vấn đề khoa học và kỹ thuật phục vụ các phong trào lớn trong nông nghiệp, công nghiệp và đời sống. Báo Khoa học thường thức được phát hành rộng rãi và được hoan nghênh. Ơ nhiều địa phương, Hội phối hợp tốt với Ban KHKT nên công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật đã góp phần thúc đẩy phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật.
Nắm vững phương châm khoa học phải đi theo đường lối quần chúng và kinh nghiệm lãnh đạo khoa học và kỹ thuật phải dựa vào hai mạng lưới: Mạng lưới các cơ quan nhà nước làm công tác khoa học và kỹ thuật và mạng lưới các Hội quần chúng làm công tác khoa học và kỹ thuật, nên ngoài việc giúp Chính phủ và các Ngành, các địa phươngtổ chức, lãnh đạo phong trào sáng kiến của quần chúng và giúp Ban Bí thư lãnh đạo Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Uỷ ban còn giúp một số Hội khoa học và kỹ thuật chuyên ngành ra đời và hoạt động. Đồng thời Bộ Y tế cũng giúp tổng hội y học và 14 Hội y học chuyên khoa ra đời và hoạt động. Do đó Uỷ ban đã có tờ trình ngày 1/3/1965 đề nghị Ban Bí thư và Chính phủ cho phép tiến hành Đại hội thành lập Hội Liên hiệp khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
4. Tuy nhiệm vụ quản lý đội ngũ cán bộ KHKT chưa được quy định cụ thể, nhưng là cơ quan quản lý thống nhất về khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban thấy mình có trách nhiệm trong việc phát triển và quản lý đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật nhất là đội ngũ có trình độ trên đại học. Cuối năm 1959, Uỷ ban đã tiến hành một đợt điều tra nắm tình hình lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật hiện có và đang được đào tạo, để có cơ sở xây dựng phương hướng phát triển khoa học và kỹ thuật dài hạn, kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5 năm 1961 - 1965, và phương hướng kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật. Đợt điều tra này đã giúp Uỷ ban nắm được tình hình số lượng cán bộ, còn tình hình chất lượng cán bộ thì nắm chưa đầy đủ. Hàng năm Uỷ ban đã góp ý kiến với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Giáo dục về chỉ tiêu và ngành nghề đào tạo cho lưu học sinh và nghiên cứu sinh. Đã cùng Bộ Giáo dục cử gần 700 nghiên cứu sinh, thực tập sinh theo các con đường hợp tác quốc tế khác nhau. Đã tổ chức 3 lớp bồi dưỡng cán bộ triết học, kinh tế học, sử học theo chương trình nghiên cứu sinh, do chuyên gia Liên Xô giảng dạy, cho 260 học viên của Uỷ ban và các cơ quan khác. Tháng 9/1961, Uỷ ban đã họp bàn thống nhất với Bộ Giáo dục về một số nguyên tắc và biện pháp nhằm tăng cường công tác nghiên cứu KHKT của các Trường Đại học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần phục vụ sản xuất trước mắt và phát triển khoa học lâu dài. Sau cuộc họp này, bắt đầu có hình thức các Bộ sản xuất có thể trực tiếp ký kết hợp đồng nghiên cứu với các Trường đại học (qua đó Bộ cung cấp chi phí nghiên cứu và thiết bị, vật tư cần thiết).
5. Về hợp tác quốc tế, Uỷ ban đã ký kết và tổ chức thực hiện các hiệp nghị và kế hoạch hợp tác khoa học và kỹ thuật với hầu hết các nước XHCN, qua đó đã tranh thủ được sự giúp đỡ rất quý của các nước về kinh nghiệm tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật, về xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học, về bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, về tài liệu khoa học và kỹ thuật. Mấy hoạt động quan trọng, nổi bật trong thời kỳ này là:
- Cùng với Uỷ ban kỹ thuật Trung Quốc tổ chức thực hiện tốt 2 đợt điều tra tổng hợp và nguồn lợi cá đáy vùng biển Vịnh Bắc bộ (1959 - 1963)
- Tổ chức làm việc với đoàn khoa học Liên Xô sang Việt Nam đầu năm 1960 để tìm hiểu tình hình và góp ý kiến giúp ta xây dựng, phát triển khoa học và kỹ thuật.
Tháng 4/1961 tổ chức đoàn khoa học Việt Nam sang tìm hiểu tình hình khoa học và kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật của Liên Xô, và tranh thủ ý kiến của Uỷ ban khoa học kỹ thuật và các Viện Hàn lâm Liên Xô đối với chương trình dài hạn phát triển khoa học và kỹ thuật, kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5 năm 1961 - 1965 của ta.
- Tranh thủ được sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô về xây dựng Viện Liên hợp nghiên cứu khoa học ( giúp thiết kế, giám sát thi công, cung cấp thiết bị toàn bộ, đào tạo cán bộ).
- Đã cử khá nhiều cán bộ sang làm nghiên cứu sinh, thực tập sinh ở các Viện Hàn lâm khoa học và Viện liên hợp nghiên cứu nguyên tử DUPNA, đồng thời đã mời một số chuyên gia cao cấp sang hướng dẫn, bồi dưỡng cán bộ ta ngay trong thực tế công tác điều tra nghiên cứu của kế hoạch khoa học và kỹ thuật hoặc giảng bài cho mấy lớp bồi dưỡng cán bộ khoa học xã hội theo chương trình nghiên cứu sinh - Hình thức trao đổi tương đương (trao đổi cán bộ khoa học với số tuần làm việc tương đương) đối với ta cũng là 1 hình thức bồi dưỡng cán bộ ngắn ngày có hiệu quả mà đỡ tốn ngoại tệ.
- Thời kỳ này có những bất đồng về quan điểm trong phong trào Cộng sản Quốc tế, Uỷ ban đã thực hiện đúng đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và duy trì được quan hệ hợp tác tốt về khoa học và kỹ thuật với các nước Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sự hợp tác về khoa học xã hội thì có dè dặt.
6. Uỷ ban coi trọng công tác quản lý kỹ thuật ngay từ đầu, nhưng phải trải qua một thời gian hoạt động, tìm hiểu, mới nhận rõ dần nội dung và phạm vi trách nhiệm, nên triển khai công tác này có phần chậm trễ. Uỷ ban đã cùng các ngành nghiên cứu, đề nghị HĐCP ban hành "Điều lệ tạm thời về nghiên cứu, xây dựng, xét duyệt, ban hành và quản lý các tiêu chuẩn kỹ thuật của các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp" theo Nghị định 123-CP ngày 24 tháng 8 năm 1963, "Điều lệ tạm thời về nghiên cứu xây dựng, xét duyệt, ban hành và quản lý các quy phạm, quy trình kỹ thuật trong công nghiệp" theo Nghị định 124-CP ngày 24 tháng 8 năm 1963 và "Bảng đơn vị đo lường hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà" theo Nghị định 186-CP ngày 26 tháng 12 năm 1964. Khi mới thành lập, Viện Đo lường - Tiêu chuẩn đã tổ chức biên soạn một số tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm kỹ thuật để các ngành áp dụng tạm thời. Sau khi Chính phủ đã ban hành các điều lệ kể trên, Viện đã tổ chức xây dựng và hướng dẫn xây dựng được 185 tiêu chuẩn Nhà nước, 53 tiêu chuẩn ngành, 350 tiêu chuẩn xí nghiệp và một số quy phạm, quy trình kỹ thuật . Được Công hoà Dân chủ Đức giúp đỡ, trang bị của các Phòng thí nghiệm đo lường của Viện đã được nâng cấp và phát tín hiệu thời gian chính xác trên đài tiếng nói Việt nam. Đã giúp các Bộ Nội thương, ngoại thương, các Thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Tỉnh Nam Hà xây dựng công tác đo lường. Công tác quản lý kỹ thuật của Uỷ ban tiến bộ dần nhưng còn lung túng vì thiếu cán bộ, thiếu cơ sở vật chất, kỹ thuật; chưa tổ chức được công tác kiểm tra chất lượng đồng thời với các công tác tiêu chuẩn hoá và quản lý đo lường.
7. Uỷ ban cũng rất coi trọng công tác thông tin - tư liệu KHKT nhằm phục vụ các công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến KHKT.
Thời kỳ này, mạng lưới thông tin, thư viện chưa hình thành. Thư viện Khoa học TW và Phòng thông tin khoa học vừa làm vừa học, hoạt động nghiệp vụ đi dần vào nề nếp. Hàng năm, phòng thông tin khoa học và thư ký vụ Ban khoa học nông nghiệp đã tổ chức biên soạn và xuất bản đều đặn 16 tập thông tin KHKT chuyên ngành: Mỏ, xây dựng, cơ khí, luyện kim, điện, vô tuyến điện, công nghiệp nhẹ, kỹ thuật nhiệt đới, sinh vật, vật lý, hoá học, nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, thú y, y dược. Cán bộ thông tin chịu khó đi về các cơ sở để tìm hiểu yêu cầu thực tế và đưa sản phẩm thông tin đến phục vụ. Thư viện Khoa học TW đã cố gắng phát triển nhanh vốn tư liệu bằng nhiều biện pháp (đặt mua, trao đổi, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức khoa học nước ngoài), đã cung cấp nhiều thông tin tư liệu quý cho công tác điều tra, nghiên cứu của các Viện, Trường, cho đấu tranh thống nhất nước nhà.
Các nhà xuất bản khoa học, văn học, sử học đã hoàn thành kế hoạch xuất bản sách hàng năm, đã xuất bản đều đặn các tạp chí của Uỷ ban và của các Viện, các Ban:
Tạp chí tin tức hoạt động khoa học nhằm phổ biến các đường lối, chủ trương phát triển KHKT của Đảng và Nhà nước, phản ánh các hoạt động KHKT của Uỷ ban và của các ngành, các cấp.
Các tạp chí Nghiên cứu văn học, nghiên cứu sử học, nghiên cứu kinh tế, những vấn đề Triết học, toán lý, sinh vật - địa học, KHKT nhằm thông báo các hoạt động và các kết quả điều tra, nghiên cứu của các ngành khoa học - kỹ thuật đó.
Việc dùng tiếng Việt để trình bày diễn giải rõ ràng, chính xác mọi vấn đề KHKT có ý nghĩa rất lớn về Chính trị và thực tiễn, nên Uỷ ban đã tích cực triển khai việc xây dựng thống nhất các thuật ngữ KHKT, Thư ký vụ các Ban khoa học và Phòng thuật ngữ KHKT đã tập hợp đông đảo cán bộ KHKT của các ngành, biên soạn được hàng chục vạn thuật ngữ KHKT theo những nguyên tắc thống nhất.
8. Năm 1965, Đế quốc Mỹ đem quân trực tiếp xâm lược miền Nam, ném bom đánh phá miền Bắc, dưới ánh sáng của Nghị quyết, Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 11, ngày 27 tháng 4 năm 1965, Uỷ ban đã họp bàn với các ngành về chủ trương duy trì và chuyển hướng công tác KHKT trước tình hình và nhiệm vụ mới, nhằm tập trung phục vụ quốc phòng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, phục vụ sản xuất và đời sống ở các vùng, các địa phương. Trong cuộc họp này các Bộ nhất trí đề nghị Uỷ ban làm đầu mối liên hệ với Bộ Quốc phòng để nhận và phân phối các nhiệm vụ phục vụ quốc phòng cho các ngành, các cơ quan. Uỷ ban cũng đã chuẩn bị nội dung cho Hội nghị KHKT địa phương mà Uỷ ban sẽ triệu tập vào đầu năm 1966.
Trong tháng 5/1965, Uỷ ban đã trao đổi ý kiến thêm trong tập thể lãnh đạo Uỷ ban về đề nghị tách UBKHNN thành 2 cơ quan. Tổ chức và hoạt động của UBKHNN đã phát triển, sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội đang đòi hỏi phát triển mạnh các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, ai cũng thấy cần và có thể tách UBKHNN thành 2 cơ quan. Nhưng tách như thế nào thì có 2 phương án khác nhau :
a) Thành lập Uỷ ban kỹ thuật Nhà nước (chức năng quản lý kỹ thuật và nghiên cứu đề xuất các đường lối, chủ trương về cách mạng kỹ thuật) và Viện Khoa học Việt Nam (chức năng nghiên cứu về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và kỹ thuật cơ bản).
b) Thành lập Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước (chức năng quản lý và nghiên cứu về KHTN và KHKT) và Viện khoa học xã hội Việt nam (chức năng nghiên cứu về khoa học xã hội).
Các thành viên Uỷ ban phần nhiều thấy nên tách theo phương án thứ hai vì cơ sở nghiên cứu KHTN và KHKT còn ít, công tác quản lý kỹ thuật mới bắt đầu xây dựng, vả lại về KHTN và KHKT nên thống nhất quản lý từ nghiên cứu đến áp dụng vào sản xuất cho thuận tiện.
Uỷ ban khoa học Nhà nước là mô hình tổ chức quản lý khoa học kỹ thuật khá độc đáo, không rập khuôn theo các nước XHCN anh em. Chức năng, nhiệm vụ được giao thì rộng, phức tạp, nhưng nội dung cụ thể chưa rõ, nghiệp vụ chưa tường, cán bộ lúc đầu mới có dăm người.
Thời kỳ này là thời kỳ Uỷ ban vừa làm vừa xây dựng tổ chức, vừa chuẩn bị cán bộ, vừa làm vừa học, vừa rút kinh nghiệm. Tuy có nhiều khó khăn lúng túng, nhưng được Đảng và Chính phủ quan tâm lãnh đạo, được các ngành, các địa phương, các cán bộ khoa học và kỹ thuật ủng hộ nên hoạt động của Uỷ ban cũng có thuận lợi và đạt được một số kết quả bước đầu kể trên, qua thực tế công tác, Uỷ ban đã nhận thức rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và nội dung công tác của Uỷ ban. Từ khi mới thành lập, Uỷ ban đã bắt tay ngay vào việc nghiên cứu, đề nghị những phương châm, nhiệm vụ khoa học phù hợp với tình hình nước ta lúc đó, vào việc tổ chức, quản lý công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật, tổ chức, lãnh đạo công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật và phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất. Uỷ ban coi trọng việc tập hợp lực lượng khoa học và kỹ thuật, tập hợp trí tuệ của cán bộ khoa học và kỹ thuật qua tổ chức và hoạt động của các Ban khoa học, các Hội khoa học, qua các hội nghị khoa học và kỹ thuật quan trọng. Uỷ ban quan tâm và cố gắng nhiều trong việc xây dựng và phát triển công tác quản lý kỹ thuật, trong việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật như xây dựng những cơ sở nghiên cứu khoa học trực thuộc chuẩn bị cho Viện Khoa học Việt Nam sau này, bồi dưỡng đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật, phát triển công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài, và công tác thông tin - tư liệu khoa học và kỹ thuật. Nói chung Uỷ ban đã thiết lập được quan hệ hợp tác tốt đã giành được tín nhiệm và có tác dụng hướng dẫn, thúc đẩy, điều hoà phối hợp công tác khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương. Tuy nhiên Uỷ ban còn phải đồng thời xây dựng và phát triển các cơ quan nghiên cứu trực thuộc nên các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật của Uỷ ban chưa được tăng cường thích đáng, do đó việc hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương còn hạn chế, công tác quản lý KHKT của Uỷ ban còn nhiều lĩnh vực chưa được thể chế hoá, nhất là quản lý kế hoạch KHKT, và nói chung chưa đáp ứng kịp yêu cầu của nhiệm vụ và của đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật số lượng ngày càng đông, trình độ ngày càng cao.
Thời kỳ Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và nghiên cứu khoa học - kỹ thuật (chỉ bao gồm khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật) trong hoàn cảnh đất nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
Thất bại trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới và "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, đế quốc Mỹ từ năm 1965 đã chuyển sang trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam, và chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Nhiệm vụ của miền Bắc lúc này chẳng những phải tăng cường chi viện nhân tài, vật lực cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược mà còn phải vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại vừa phát triển sản xuất, bảo đảm đời sống, không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Tình hình khoa học - kỹ thuật của miền Bắc lúc này đã có những tiến bộ rõ rệt : Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật đã lớn mạnh hơn nhiều, các cơ sở nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp đã tăng hơn; các công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật cũng như phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học - kỹ thuật đã được mở rộng hơn. Tuy nhiên so với yêu cầu to lớn của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì lực lượng và khả năng khoa học - kỹ thuật của ta còn rất hạn chế. Hoạt động khoa học - kỹ thuật trong điều kiện chiến tranh còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn.
Trong hoàn cảnh chống Mỹ cực kỳ gay go, ác liệt, với niềm tin vững chắc ở thắng lợi cuối cùng, Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chỉ đạo kịp thời việc chuyển hướng và tăng cường công tác khoa học và kỹ thuật nhằm phục vụ sản xuất, chiến đấu, đời sống trước mắt và chuẩn bị phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với quy mô lớn, trình độ cao sau khi chiến thắng đế quóc Mỹ - Uỷ ban thường vụ quốc hội đã ra quyết định số 165 NQ/TVQH ngày 11 tháng 10 năm 1965 về việc phân Uỷ ban Khoa học Nhà nước thành 2 cơ quan: Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước và Viện khoa học xã hội Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và phát triển cả khoa học tự nhiên và kỹ thuật lẫn khoa học xã hội và nhân văn. Hội đồng chính phủ đã ra chỉ thị số 163 CP ngày 1/9/1966 về phương hướng nhiệm vụ công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật 2 năm 1966-1967. Ban bí thư đã ra quyết định số 157 NQ/TW ngày 22 tháng 2 năm 1967 về tăng cường công tác khoa học và kỹ thuật trong tình hình và nhiệm vụ mới.
Nghị quyết quan trọng này sau khi đánh giá tình hình khoa học - kỹ thuật và lãnh đạo, chỉ đạo công tác KH-KT, nêu rõ yêu cầu đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật, đã đề ra hai nhiệm vụ lớn của KH-KT là phục vụ đắc lực cuộc cách mạng kỹ thuật trong thời chiến và tích cực chuẩn bị để phục vụ đắc lực cuộc cách mạng kỹ thuật trên quy mô lớn, với trình độ cao, trong phạm vi cả nước sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc thắng lợi và sự phân công, phối hợp thực hiện những nội dung cụ thể của hai nhiệm vụ đó. Nghị quyết khẳng định vai trò của UBKHKTNN là cơ quan tham mưu của Đảng và Chính phủ về công tác KH-KT, là cơ quan giúp Đảng và Chính phủ thống nhất quản lý công tác khoa học kỹ thuật, cần tích cực tăng cường lực lượng cho Uỷ ban để Uỷ ban có thể làm tốt những nhiệm vụ cơ bản của mình. Nghị quyết cũng yêu cầu các cấp uỷ Đảng các cấp lãnh đạo cơ quan Nhà nước và đoàn thể quần chúng, tăng cường lãnh đạo công tác khoa học kỹ thuật trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ngày 27 tháng 5 năm 1967 HĐCP đã ban hành Nghị định 67/CP về chức năng nhiệm vụ và tổ chức của UBKHKTNN.
A. Chức năng, nhiệm vụ của UBKHKTNN :
Theo Nghị định số 67/CP ngày 27/5/1967, "Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm vừa quản lý thống nhất và tập trung công tác khoa học và kỹ thuật vừa làm công tác của một Viện nghiên cứu khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật) của Nhà nước theo đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta một cách tốt nhất và nhanh nhất, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà".
Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước có nhiệm vụ:
1. Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ quyết định các phương hướng, chính sách, chế độ, thể lệ về khoa học và kỹ thuật và các quy hoạch, kế hoạch nghiên cứu khoa học.
2. Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ ban hành các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật của Nhà nước.
3. Tổ chức quản lý các công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và các sáng chế, phát minh bao gồm các việc đăng ký, đánh giá, khen thưởng, áp dụng vào sản xuất, gìn giữ bí mật Nhà nước. Tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm lớn của quần chúng.
4. Cùng với các ngành, các địa phương xây dựng hệ thống cơ sở nghiên cứu. Xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học trực thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước để tạo điều kiện tiến tới thành lập Viện KHVN (khoa học tự nhiên và kỹ thuật).
5. Cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ quyết định phương hướng, quy hoạch đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật.
6. Tổ chức công tác thông tin, tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và áp dụng khoa học và kỹ thuật, bao gồm:
- Thu thập, gìn giữ, sắp xếp, khai thác, phổ biến các tài liệu về thành tựu khoa học và kỹ thuật ở trong nước và nước ngoài.
- Tổ chức và quản lý hệ thống thư viện khoa học và kỹ thuật trong cả nước.
- Xuất bản các sách báo, tập san và tài liệu khoa học và kỹ thuật.
7. Thống nhất quản lý công tác cung cấp, điều hoà phân phối các vật tư chủ yếu cho công tác nghiên cứu và thí nghiệm khoa học và kỹ thuật.
8. Mở rộng hợp tác khoa học và kỹ thuật với các nước XHCN anh em và trao đổi khoa học và kỹ thuật với các nước khác nhằm nhanh chóng áp dụng những thành tựu mới về khoa học và kỹ thuật của nước ngoài vào Việt Nam.
9. Giúp đỡ các tổ chức khoa học và kỹ thuật của quần chúng nhằm thúc đẩy phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học và kỹ thuật phục vụ cuộc cách mạng kỹ thuật theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
10. Quản lý tổ chức, cán bộ, lao động tiền lương, tài vụ, vật tư, tài sản trong cơ quan, đơn vị thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước theo chế độ chung của Nhà nước.
11. Để thực hiện các nhiệm vụ trên đây, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với các ngành, các đoàn thể, các địa phương, Uỷ ban nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ quy định những mối quan hệ cụ thể giữa Uỷ ban và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Uỷ ban hành chính địa phương, các cơ quan quản lý và nghiên cứu khoa học và kỹ thuật ở các ngành, các cấp.
Thời kỳ này, chức trách của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, về quản lý cũng như nghiên cứu, được tập trung vào các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, và được xác định rõ là quản lý tập trung thống nhất công tác khoa học và kỹ thuật, do đó nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban về quản lý các công tác cán bộ, vật tư, thông tin thư viện và hợp tác khoa học và kỹ thuật cũng được quy định rõ hơn trước. Theo Nghị quyết 157-NQ/TW, Ban bí thư phân công, về các công việc phục vụ cách mạng kỹ thuật trong thời chiến thì các ngành, các địa phương chịu trách nhiệm chính, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chịu trách nhiệm điều hoà, phối hợp; về các công việc chuẩn bị phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến tranh như tìm hiểu những thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới, xây dựng phương hướng quy hoạch phát triển công tác khoa học và kỹ thuật, phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật thì Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chịu trách nhiệm chính. Trước yêu cầu tăng cường quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản, ngày 13 tháng 1 năm 1970, HĐCP đã có quyết định số 08/CP thành lập Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản và quy định UBKHKTNN là cơ quan thường trực của Hội đồng và chủ nhiệm UBKHKTNN là Chủ tịch Hội đồng.
B. Cơ cấu tổ chức của UBKHKTNN :
1. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước : Không còn một tập thể lãnh đạo như Uỷ ban Khoa học Nhà nước trước đây, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước được tổ chức và làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp với bàn bạc tập thể, chủ nhiệm Uỷ ban chịu trach nhiệm trước Quốc hội và Hội đồng Chính phủ về toàn bộ công tác của Uỷ ban.
Chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban thời kỳ này do ông Trần Đại Nghĩa, Chủ nhiệm Uỷ ban kiến thiết cơ bản Nhà nước kiêm nhiệm. Các Phó chủ nhiệm chuyên trách: ông Trần Quỳnh và ông Lê Khắc. Các uỷ viên chuyên trách: ông Nguyễn Văn Biên và ông Nguyễn Văn Hiệu (từ năm 1969).
2. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật :
a. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật theo ngành năm 1967 được phân từ 7 Ban thành 17 Ban : Ban toán học, Ban cơ học, Ban vật lý, Ban hóa học, Ban sinh vật, Ban địa học, Ban kỹ thuật công nghiệp nhẹ, Ban điện lực, Ban vô tuyến điện, Ban cơ khí, Ban luyện kim, Ban mỏ, Ban kiến trúc - xây dựng, Ban giao thông, Ban thuỷ lợi, Ban nông - lâm nghiệp, Ban y học.
Danh sách các uỷ viên Ban do Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đề nghị, Thủ tướng xét duyệt.
Bộ máy điều hành công việc của Ban là Thư ký vụ do 1 Uỷ viên Ban, tương đương cấp vụ, phụ trách.
b. Các cơ quan quản lý kỹ thuật:
Năm 1971, thành lập Cục kiểm tra chất lương sản phẩm và hàng hoá; Viện Đo lường và tiêu chuẩn được phân thành Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn; Năm 1975 Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn được đổi tên thành Cục Đo lường và Cục Tiêu chuẩn cho phù hợp với chức năng quản lý hơn.
3. Các cơ quan quản lý và hành chính sự nghiệp khác :
Văn phòng UBKHKTNN, Vụ tổng hợp - kế hoạch, Vụ tổ chức - cán bộ, Vụ thông tin và hợp tác quốc tế, Cục vật tư, Cục kiến thiết cơ bản, Thư viện khoa học và kỹ thuật trung ương, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Phòng sáng chế - phát minh, Tổ xét duyệt trữ lượng khoáng sản, Ban thanh tra (thành lập tháng 8 năm 1974).
4. Các cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật:
- Viện Nghiên cứu khoa học tự nhiên thành lập năm 1967.
- Viện Vật lý, tách khỏi Viện nghiên cứu khoa học tự nhiên từ tháng 2 năm 1969.
- Viện Toán học thành lập tháng 2/1969.
- Viện nghiên cứu biển thành lập năm 1967.
- Phòng Cơ học tách khỏi Viện nghiên cứu khoa học tự nhiên từ tháng 8 năm 1969.
- Phòng Hoá hợp chất tự nhiên.
- Phòng Máy tính.
- Bộ phận công tác ở Viện DUPNA.
Theo Nghị định 67/CP trong tổ chức của UBKHKTNN còn có Viện Nghiên cứu kỹ thuật cơ bản. Uỷ ban đã chuẩn bị được 31 cán bộ về Vô tuyến điện, mỏ, Luyện kim, Hoá học và giao cho các Ban có liên quan tạm thời quản lý, đến năm 1970 - 1971, vừa có chủ trương giảm biên chế vừa thấy chưa thật cần thiết thành lập Viện này, Uỷ ban đã chuyển số cán bộ này đi làm việc khác.
Tình hình tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước trong thời kỳ này có nhiều diễn biến quan trọng:
Các Ban khoa học có thời gian được coi hầu như chỉ là cơ quan tham mưu với nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị phương hướng, chủ trương phát triển khoa học và kỹ thuật, điều hoà phối hợp công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, tổ chức sinh hoạt học thuật, chăm lo nội dung cho các tập san khoa học và góp ý kiến với các cơ quan quản lý theo lĩnh vực, khi cần thiết, về các mặt cán bộ, vật tư, hợp tác quốc tế, quản lý kỹ thuật, v.v... Còn nhiệm vụ quản lý khoa học, quản lý kỹ thuật và tổng hợp thì tập trung vào Vụ Tổng hợp - Kế hoạch, sau thấy quá nặng không làm nổi nên Vụ Tổng hợp - Kế hoạch được chuyển thành Vụ Quản lý khoa học và Vụ Quản lý kỹ thuật; sau một thời gian hoạt động, thấy quản lý tách rời khoa học và kỹ thuật không thích hợp, hai Vụ này được nhập lại thành Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật. Đến năm 1972, các Ban được khẳng định lại là cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật theo ngành, và để việc phối hợp giữa các Ban thuận lợi hơn đồng thời việc chỉ đạo của Uỷ ban giảm bớt đầu mối nên đã hình thành năm khối Ban khoa học, có thể coi như tiền thân của các Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật theo ngành sau này: Khối khoa học cơ bản, Khối công nghiệp, Khối nông sinh y, Khối xây dựng cơ bản, Khối điều tra cơ bản và bảo vệ thiên nhiên.
Vụ Tổng hợp - kế hoạch cũng được lập lại như Nghị định số 67-CP đã quy định.
Năm 1972, Vụ Thông tin và hợp tác quốc tế được phân thành 2 cơ quan: Vụ hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài và Viện thông tin khoa học và kỹ thuật Trung ương, để phát triển mạnh cả 2 lĩnh vực công tác quan trọng này.
Từ cuối năm 1971, để đẩy nhanh việc chuẩn bị lực lượng cho Viện khoa học Việt Nam đồng thời để đỡ phân tán trong chỉ đạo của Uỷ ban, Uỷ ban đã có tờ trình đề nghị Hội đồng Chính phủ tách các cơ quan nghiên cứu ra khỏi Uỷ ban và thành lập Viện khoa học Việt Nam. Trong khi chờ đợi quyết định của Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban đã tổ chức bộ máy của mình thành 2 khối: khối quản lý và khối nghiên cứu, và xây dựng quy chế làm việc thích hợp.
Qua những diến biến kể trên, chúng ta thấy Uỷ ban có lúng túng trong tổ chức bộ máy quản lý khoa học kỹ thuật của mình và chúng ta có thể rút được một bài học kinh nghiệm về vận dụng nguyên tắc "trước hợp sau phân" như thế nào cho hợp lý.
C. Những chủ trương và hoạt động chính của UBKHKTNN:
Thời kỳ này, trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, các cơ quan, xí nghiệp phải sơ tán, phân tán, hoạt động khoa học và kỹ thuật cũng như hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chủ trương một mặt hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương duy trì, và chuyển hướng các hoạt động khoa học và kỹ thuật cho phù hợp với chủ trương chuyển hướng kinh tế của Đảng, đồng thời điều hoà phối hợp lực lượng nghiên cứu giải quyết dứt điểm một số vấn đề, đề tài cấp thiết đối với sản xuất chiến đấu và đời sống trước mắt, mặt khác xúc tiến công việc chuẩn bị phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến tranh như tổ chức xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn phát triển khoa học và kỹ thuật, phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật, tổ chức tiến hành một số công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và quản lý kỹ thuật có ý nghĩa lớn và lâu dài đối với kinh tế quốc dân.
1. Thời kỳ này, Uỷ ban đã dành nhiều thời giờ và lực lượng vào việc nghiên cứu đường lối chủ trương, chính sách phát triển khoa học và kỹ thuật trước mắt cũng như lâu dài để làm tham mưu cho Đảng và Chính phủ.
Năm 1966, đã chuẩn bị cho Hội đồng Chính phủ ra chỉ thị số 163 CP về phương hướng nhiệm vụ công tác khoa học và kỹ thuật 2 năm 1966 - 1967, cho Ban bí thư ra Nghị quyết 157 NQ/TW về tăng cường công tác khoa học và kỹ thuật trong tình hình và nhiệm vụ mới. Chỉ thị và Nghị quyết quan trọng này đã có tác dụng lãnh đạo, chỉ đạo rất lớn đối với việc chuyển hướng hoạt động khoa học - kỹ thuật của các ngành, các cấp. Trong 2 năm 1966 - 1967, Uỷ ban đã cùng các Bộ chủ chốt xây dựng quy hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật ở nước ta (các Bộ làm đề án ngành, Uỷ ban làm đề án tổng hợp). Tham gia nghiên cứu có hầu hết cán bộ giỏi nhất của các ngành. Trong quá trình dự thảo, có trao đổi ý kiến với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước để quy hoạch khoa học và kỹ thuật ăn khớp với quy hoạch kinh tế. Tháng 8/1967, Uỷ ban đã báo cáo lên Bộ chính trị kết quả bước đầu nghiên cứu quy hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật bao gồm những quan điểm cơ bản về phát triển khoa học - kỹ thuật, phương hướng chung và phương hướng cụ thể của cách mạng KH-KT (đổi cách mạng kỹ thuật thành cách mạng KH-KT), những phương hướng phát triển KH-KT, phát triển tiềm lực KH-KT và vấn đề quản lý Nhà nước về KH-KT. Sau đó, Uỷ ban tiếp tục tổ chức nghiên cứu hoàn chỉnh dự thảo quy hoạch và tháng 2 năm 1975, Uỷ ban đã trình Bộ Chính trị văn bản kiến nghị những quan điểm, phương châm, phương hướng, biện pháp lớn về phát triển khoa học và kỹ thuật ở nước ta. Hồi đó do bận tập trung chỉ đạo chiến tranh giải phóng miền Nam, Bộ Chính trị chưa cho ý kiến ngay đối với văn kiện này.
2. Từ năm 1967, theo chỉ thị của Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước tạm ngừng việc xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm của Nhà nước và chuyển sang góp ý kiến cho kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm của các Bộ, Tổng cục và góp ý kiến với Bộ Tài chính về cấp phát kinh phí cho nghiên cứu khoa học và kỹ thuật. Sau khi có chủ trương chuyển hướng hoạt động khoa học - kỹ thuật, các Bộ đã sửa đổi khá nhiều kế hoạch KH-KT, tập trung vào phục vụ yêu cầu trước mắt là chính. Nhiều Viện, trường nhận thêm những đề tài nghiên cứu giải quyết một số vấn đề kỹ thuật cấp bách cho Quốc phòng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc... Đến năm 1971, Uỷ ban lại tiếp tục tổ chức xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm của Nhà nước, tập trung vào 1 số vấn đề, đề tài lớn mà Nhà nước cần quản lý. Công tác kế hoạch tiến bộ hơn thời kỳ đầu một bước. Về nội dung, kế hoạch bám sát các yêu cầu sản xuất, chiến đấu và đời sống trước mắt đồng thời chú ý một số vấn đề có tính chất lâu dài. Kế hoạch bắt đầu đề ra những tiến bộ khoa học và kỹ thuật cần đưa vào sản xuất nhưng vẫn chưa tổng hợp cân đối được các nhu cầu về cán bộ, vật tư, tài chính... Việc xét duyệt kế hoạch khoa học và kỹ thuật vẫn muộn so với kế hoạch kinh tế; nắm tình hình thực hiện kế hoạch khoa học và kỹ thuật vẫn chưa được chắc.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, công tác nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, trong cơ xưởng thường gặp nhiều khó khăn, nhưng công tác điều tra cơ bản, công tác thí nghiệm trên thực địa cũng như công tác nghiên cứu dựa vào tài liệu thu thập được vẫn có thể xúc tiến, còn cán bộ khoa học - kỹ thuật thì nhiệt tình hăng hái muốn đóng góp cho kháng chiến chống Mỹ cứu nước bằng hoạt động khoa học kỹ thuật của mình. Công tác điều tra, nghiên cứu của các ngành, các địa phương cũng như của các cơ sở thuộc UBKHKTNN vẫn được duy trì, có phần được đẩy mạnh. Các kết quả điều tra, nghiên cứu (bao gồm cả các kết quả điều tra, nghiên cứu của các Viện, phòng thuộc UBKHKTNN) đã góp phần đáng kể vào phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống trước mắt đồng thời chuẩn bị phục vụ cho các yêu cầu lâu dài sau này.
Về khoa học xã hội, đã tiếp tục thực hiện 4 công trình khoa học cơ bản đề ra từ thời kỳ 1959 - 1965 (Lịch sử Việt Nam, lịch sử văn học Việt Nam, từ điển tiếng Việt, Ngữ pháp tiếng Việt). Ngoài ra còn tiến hành nghiên cứu những vấn đề cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa mang bản sắc Việt Nam.
Về khoa học nông nghiệp, đã nghiên cứu áp dụng thành công nhiều biện pháp thâm canh tăng năng suất một số cây trồng vật nuôi chính như lúa, khoai, chè, lạc, đậu tương, lợn, gà... Điển hình nhất là tỉnh Thái Bình đã đạt chỉ tiêu 5 tấn/ha gieo trồng nhờ chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, áp dụng nhiều giống lúa mới năng suất cao và những biện pháp thâm canh thích hợp, cải tiến kỹ thuật sản xuất đi đôi với cải tiến quản lý hợp tác xã.
Về khoa học kỹ thuật, đã nghiên cứu đặc tính của một số nguyên liệu thực vật, khoáng vật Việt Nam có nhiều và phương án khai thác chế biến, sử dụng hợp lý nhằm giải quyết khó khăn về nguyên vật liệu trong sản xuất và xây dựng. Đã nghiên cứu giải quyết những vấn đề tồn tại trong công nghệ đúc và kỹ thuật gá lắp, đã nghiên cứu áp dụng một số công nghệ tiên tiến như mạ phun kim loại, hàn dập thể tích, luyện kim bột... Đã nghiên cứu phục hồi chi tiết mòn và sản xuất phụ tùng thay thế cho các thiết bị vận chuyển, khai thác than, điện... Đã cơ giới hoá một số khâu lao động nặng nhọc trong sản xuất công, nông nghiệp, giao thông, xây dựng như nạo vét kênh mương, cầy bừa, gặt lúa, bốc dỡ hàng hoá... Đã nghiên cứu đề ra những giải pháp cải tiến việc cung cấp, sử dụng nguồn năng lượng hiện có và lập quy hoạch phát triển năng lượng trên cơ sở than và thuỷ năng. Đã nghiên cứu thiết kế định hình những kết cấu lắp ghép cho nhà ở, nhà kho, áp dụng các biện pháp thi công nhanh, thi công trong mùa mưa...
Về khoa học y dược, đã điều tra nghiên cứu về đặc điểm cơ thể và điều kiện sinh hoạt của người Việt Nam, về tỷ lệ các bệnh tật trong nhân dân, nghiên cứu các biện pháp phòng chữa các bệnh phổ biến có ảnh hưởng nhiều đến lao động sản xuất, đến tỷ lệ tử vong của sản phụ và trẻ sơ sinh, nghiên cứu các tiêu chuẩn ăn ở thích hợp với điều kiện khí hậu, điều kiện lao động của nhân dân ta. Đã nghiên cứu sản xuất một số thuốc chủ yếu từ nguyên liệu thực vật trong nước. Đã coi trọng kết hợp Đông Tây y trong phòng và chữa bệnh.
Về khoa học tự nhiên, các ngành toán, cơ, lý, hoá ngoài nghiên cứu có kết quả bước đầu một số vấn đề lý thuyết còn tham gia giải quyết nhiều vấn đề thực tế như áp dụng vận trù học trong cửa hàng mậu dịch, phương pháp PERT trong thi công xây dựng cơ bản, thống kê xác suất trong kiểm tra chất lượng sản phẩm, sử dụng Máy tính điện tử vào giải quyết những bài toán phức tạp về tưới tiêu, dự báo thời tiết, thiết kế công trình, quy hoạch rừng... tính toán thiết kế các cấu kiện xây dựng, chống rung cho móng máy, móng cầu, truyền sóng nổ trong đất; tinh chế xê len, chế tạo một số linh kiện điện tử, phân tích mẫu vật bằng phương pháp quang phổ và vật lý hạt nhân, tinh chế dầu hồi, chế tạo sơn chống rỉ, phương pháp mạ kền, mạ kẽm, biện pháp chống mốc cho các thiết bị điện, điện tử, quang học...
Đã hoàn thành điều tra cơ bản côn trùng hại cây trồng ở các nông, lâm trường, điều tra cơ bản các động vật hoang dại và ký sinh trùng ở miền Bắc, điều tra cơ bản tập đoàn cây phân xanh họ đậu, điều tra xác định các cây ăn được và cây làm thuốc ở vùng rừng núi miền Trung, miền Nam phục vụ bộ đội hoạt động ở chiến trường. Đã thí nghiệm phát triển bèo dâu mùa hè, nhân giống khoai tây bằng hạt, nhân nhanh giống dứa, nghiên cứu vấn đề quang hợp với năng suất cây trồng, đặc điểm sinh lý của người Việt Nam, đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam. Đã thí nghiệm dùng biện pháp sinh học để tổng hợp protein và enzym, để diệt côn trùng và ký sinh trùng.
Đã hoàn thành bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000, tiến hành nghiên cứu, địa chất trung sinh đại phục vụ tìm kiếm dầu khí. Tiến hành đo đạc, ghi chép các số liệu về địa chấn, các biến thiên của từ trường, áp dụng phương pháp từ điện đất để nghiên cứu cấu trúc sâu của một số vùng địa chất. Đã nghiên cứu được một số đặc điểm và quy luật của một số yếu tố khí tượng thuỷ văn phục vụ sản xuất và giao thông vận tải.
Đã hoàn thành xử lý các kết quả điều tra tổng hợp vùng biển vịnh Bắc Bộ, hoàn thành biên soạn cuốn phân vùng tự nhiên miền Bắc Việt Nam, đã tiến hành biên soạn cuốn địa lý Việt Nam, tiến hành nghiên cứu tổng hợp nhằm sử dụng hợp lý đất đai vùng đồi núi thấp miền Trung du Bắc Bộ.
3. Thời kỳ này, Phòng sáng chế - phát minh được thành lập đã giúp UBKHKTNN thức đẩy phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất của quần chúng và quản lý hoạt động này có phần chặt chẽ hơn. Từ năm 1966 đến năm 1972, Uỷ ban hướng phong trào vào khắc phục những khó khăn trong sản xuất, giao thông vận tải thời chiến, từ năm 1973 đến năm 1976, hướng vào tìm biện pháp ổn định sản xuất, bảo đảm chất lượng sản phẩm. Uỷ ban đã có thông tư hướng dẫn thực hiện điều lệ khen thưởng sáng kiến của Hội đồng Chính phủ, đã mở nhiều lớp huấn luyện nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách quản lý sáng kiến của các ngành, các địa phương đã phối hợp với Bộ Lao động, Tổng liên đoàn lao động, Ban thi đua TW v.v... tổ chức một số Hội nghị tổng kết công tác sáng kiến và khen thưởng những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng kiến. Tuy nhiên việc tính toán hiệu quả kinh tế của sáng kiến còn lúng túng, nhiều khi chỉ là áng chừng, do đó mức khen thưởng không phù hợp với giá trị của sáng kiến; nhiều sáng kiến tốt chưa được xác minh, đánh giá, phổ biến áp dụng kịp thời.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động của Hội phổ biến khoa học - kỹ thuật gặp nhiều khó khăn tác dụng giảm sút. Ban bí thư đã ra Nghị quyết số 218 NQ/TW ngày 21/7/1971 về việc giải thể Hội. Từ đó, việc phổ biến sẽ do các tổ chức khoa học kỹ thuật đảm nhiệm, việc liên lạc quốc tế với danh nghĩa của Hội phổ biến KHKT Việt nam tiếp tục duy trì với danh nghĩa Liên hiệp các Hội KHKT Việt nam do Đảng đoàn UBKHKTNN phụ trách.
4. Trong hoàn cảnh cơ quan, xí nghiệp phân tán, sơ tán, nề nếp quản lý kỹ thuật của các ngành, các cơ sở rất khó duy trì. Uỷ ban vẫn cố gắng tổ chức nhiều Hội nghị Phổ biến và triển lãm lưu động ở các tỉnh, thành phố để tuyên truyền cho công tác tiêu chuẩn hoá và quản lý đo lường. Uỷ ban vẫn tổ chức các lớp học nghiệp vụ tiêu chuẩn, đo lường, đã đào tạo hàng trăm kiểm định viên đo lường cho các tỉnh, thành phố, đồng thời cử hàng chục cán bộ của Uỷ viên sang học tập nâng cao nghiệp vụ ở các nước XHCN. Năm 1968, sau khi Đế quốc Mỹ bắt buộc phải chấm dứt ném bom miền Bắc, Uỷ ban đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 55 TTg/VG ngày 23 tháng 6 năm 1969 về khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý kỹ thuật trong thời chiến. Uỷ ban đã tổ chức nắm tình hình các cơ sở sản xuất và dự thảo quy chế quản lý kỹ thuật trong xí nghiệp công nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp - Uỷ ban đã chuẩn bị cho Hội đồng Chính phủ ban hành các Điều lệ về quản lý đo lường (Theo Nghị định 216-CP và 217-CP ngày 25 tháng 9 năm 1973) về tiêu chuẩn hoá và kiểm tra chất lượng sản phẩm ở xí nghiệp công nghiệp (Theo Nghị định 290-CP ngày 30 tháng 12 năm 1974 và 26-CP ngày 21 tháng 2 năm 1974) và các chỉ thị 159-TTg ngày 7 tháng 7 năm 1973 và 228-TTg ngày 21 tháng 9 năm 1974 về quản lý chất lượng sản phẩm, do đó đã tăng cường 1 bước pháp chế quản lý kỹ thuật. Uỷ ban đã hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương xây dựng các công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Bản thân Uỷ ban đã tổ chức xây dựng và ban hành 1500 TCVN (tính đến hết năm 1973) và hàng năm tổ chức kiểm định, sửa chữa được khoảng 300 thiết bị, dụng cụ đo lường. Tháng 4 năm 1972, Hội nghị và triển lãm 10 năm tiêu chuẩn hoá đã được tổ chức tại Hà Nội và đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác tiêu chuẩn hoá phục sản xuất cơ khí hoá, sản xuất hàng loạt, sản xuất lớn XHCN. Công tác quản lý kỹ thuật tuy được tăng cường hơn trước, nhưng kiểm tra việc áp dụng các tiêu chuẩn và quy phạm Nhà nước còn lỏng lẻo. Ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường và kiểm tra chất lượng sản phẩm còn thiếu phối hợp với nhau. Cuối thời kỳ này, Uỷ ban đã đề nghị Hội đồng Chính phủ cho sáp nhập 3 Cục tiêu chuẩn, đo lường, kiểm tra chất lượng thành một Tổng cục để sự chỉ đạo ba mặt công tác đó được thống nhất và chặt chẽ hơn.
Là cơ quan thường trực cho Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản của Nhà nước do Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước làm chủ tịch, Uỷ ban đã bước đầu xây dựng nền nếp kiểm tra, xét duyệt 1 cách khẩn trương, nghiêm túc chất lượng các báo cáo thăm dò, tính toán trữ lượng khoáng sản mà các cơ quan thăm dò, khai thác trình duyệt, có thể coi đây là 1 công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quyết định chủ trương, chính sách khai thác tài nguyên, phát triển công nghiệp của Nhà nước.
5. Thời kỳ này, ngoài tích cực tổ chức xây dựng phương hướng, quy hoạch phát triển công tác khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban còn cố gắng thực hiện tốt hơn chức trách của mình về quản lý thống nhất tiềm lực khoa học và kỹ thuật.
a. Năm 1966 - 1967, Uỷ ban đã tiến hành 1 đợt điều tra thứ hai (đợt đầu vào năm 1959 - 1960) về tình hình lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật ở miền Bắc, kết quả là đã đánh giá được đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật về cơ cấu và chất lượng, đã thu thập được hơn 2 vạn lý lịch khoa học của cán bộ trình độ trên đại học, sau đó tiếp tục duy trì việc đăng ký, thống kê cán bộ trình đệ trên đại học qua lí lịch khoa học. Ngày 27 tháng 3 năm 1967, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/CP về chế độ đào tạo nghiên cứu sinh ở trong nước, trong đó UBKHKTNN và Viện KHXH Việt nam được phân công quản lý về mặt học thuật, phân phối điều hoà các đề tài nghiên cứu. Năm 1969, Uỷ ban đã tham gia điều tra tình hình sử dụng cán bộ khoa học và kỹ thuật ở 1 số ngành và địa phương, góp phần chuẩn bị cho Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 211-TTg năm 1971 về cải tiến công tác bố trí, sử dụng cán bộ khoa học và kỹ thuật nhằm khắc phục dần tình trạng bố trí ở cơ sở rất ít, bố trí trái ngành nghề, bố trí công việc không ổn định thay đổi luôn, sử dụng không đi đôi với bồi dưỡng... Tuy nhiên Uỷ ban còn dè dặt thiếu chủ động đề xuất với Đảng và Chính phủ việc phân công hợp lý trong quản lý cán bộ khoa học và kỹ thuật để vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng vừa phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Theo chỉ thị 190-CT/TW ngày 7 tháng 7 năm 1971 của Ban bí thư, Ban Khoa giáo TW có trách nhiệm cùng Ban tổ chức TW, Ban tuyên huấn TW giúp BCH TW quản lý thống nhất toàn bộ đội ngũ trí thức, và các ngành có trách nhiệm quản lý thống nhất đội ngũ trí thức thuộc ngành mình, như vậy là không có cơ quan Nhà nước nào có trách nhiệm quản lý thống nhất đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước. Sau khi có chỉ thị này, Uỷ ban đã giải thể Phòng quản lý cán bộ khoa học và kỹ thuật của Vụ Tổ chức - cán bộ và đặt công tác cán bộ khoa học và kỹ thuật trong khuôn khổ công tác kế hoạch khoa học và kỹ thuật do Vụ Tổng hợp - kế hoạch đảm nhiệm.
b. Uỷ ban đã cố gắng rất nhiều trong việc xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trực thuộc Uỷ ban nhằm chuẩn bị cho việc thành lập Viện khoa học Việt Nam. Các cơ sở này phát triển tổ chức và lực lượng khá nhanh, hoạt động thu được nhiều kết quả có tác dụng phục vụ sản xuất và chiến đấu như đã nêu ở điểm 2 của mục C này. Còn việc cùng với các ngành, các địa phương xây dựng hệ thống cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thì mới đề nghị Chính phủ ban hành một số nguyên tắc cơ bản cho việc thành lập cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trong tình hình có chiến tranh, chứ chưa xây dựng thêm được cơ sở mới nào ngoài Viện thực phẩm của Bộ công nghiệp nhẹ được thành lập trên cơ sở những bộ phận nghiên cứu, thí nghiệm đã có và trường đại học bách khoa hoàn thành khu giảng dạy mới với những phòng thí nghiệm được trang bị hiện đại.
c. Về thông tin - tư liệu khoa học và kỹ thuật, sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của công tác thông tin KH-KT là Uỷ ban đã tổ chức Hội nghị thông tin KHKT lần thứ nhất đầu tháng 3 năm 1971 tại Hà Nội và đã chuẩn bị cho Hội đồng Chính phủ ban hành nghị quyết 89-CP về tăng cường công tác thông tin khoa học và kỹ thuật và quyết định 187/CP về thành lập Viện thông tin KHKT trung ương. Từ đó mạng lưới thông tin KHKT được mở rộng dần ra các ngành, các địa phương, các cơ sở. Mới bước đầu xây dựng, Viện TTKHKTTW chưa đủ lực quản lý thật tốt mạng lứo nhưng hàng năm đã mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin học cấp cơ sở cho cán bộ trong mạng lưới, đã chuyển dần các ấn phẩm thông tin khoa học và kỹ thuật chuyên ngành cho các cơ quan thông tin chuyên ngành đảm nhiệm để tập trung phục vụ thông tin về đường lối, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật của nước ngoài, về những thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới và những thành tựu KH-KT trong nước.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, nhờ hợp tác quốc tế vốn tư liệu của Thư viện khoa học Trung ương vẫn phát triển. Kho tư liệu được phân tán nhiều nơi để bảo vệ, nhưng vẫn duy trì việc phục vụ bạn đọc ở Thủ đô và ở nơi sơ tán của Uỷ ban. Tháng 11 năm 1968, Thư viện khoa học TW được phân thành 2 thư viện : Thư viện KHKTTW và Thư viện KHXH. Thư viện KHKTTW mất khá nhiều thời gian để chấn chỉnh lại hệ thống kho và mục lục, biên soạn lại diện bổ sung tài liệu và quy tắc mô tả tài liệu. Khi chấn chỉnh lại hệ thống kho và mục lục TVKHKTTW đã thanh lọc một số tài liệu không đúng diện bổ sung, chia sẻ một số tài liệu nhiều bản cho các Thư viện ngành và địa phương, áp dụng khung phân loại BBK của Liên Xô đã được biên soạn lại cho phù hợp với Việt Nam. Theo Nghị định 67-CP, Uỷ ban có nhiệm vụ tổ chức và quản lý hệ thống thư viện khoa học và kỹ thuật trong cả nước, nhưng theo nghị định 178 -CP thì Bộ Văn hoá có trách nhiệm thống nhất quản lý công tác thư viện và hệ thống thư viện nói chung trong phạm vi cả nước. Tuy chức trách quản lý không được quy định nhất quán nhưng Thư viện khoa học và kỹ thuật Trung ương sẵn sàng giúp đỡ các thư viện khác khi có yêu cầu giúp đỡ về nghiệp vụ, về tài liệu.
Mặc dù khó khăn về giấy và in, Nhà xuất bản khoa học vẫn cố gắng bảo đảm xuất bản đều kỳ các tạp chí khoa học, bảo đảm hoàn thành kế hoạch xuất bản sách với nội dung đúng hướng, hình thức tiến bộ.
Nói chung, công tác thông tin - tư liệu khoa học và kỹ thuật đã cố gắng khắc phục khó khăn, phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu xây dựng đề án cách mạng kỹ thuật, cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, phổ biến khoa học và kỹ thuật nhưng khả năng có hạn chưa thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng nhiều càng cao.
d. Về thống nhất quản lý công tác cung cấp, điều hoà, phân phối các vật tư chủ yếu cho khoa học và kỹ thuật, từ năm 1972 về trước, Uỷ ban chưa làm được gì đáng kể. Năm 1973, sau khi Thủ tướng có chỉ thị 1754-VP15, Uỷ ban đã phối hợp với Tổng cục Thống kê tiến hành tổng kiểm kê thiết bị khoa học và kỹ thuật tại các cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, cử cán bộ đi nắm tình hình sử dụng, bảo quản thiết bị khoa học và kỹ thuật, trên cơ sở đó Uỷ ban đã báo cáo và kiến nghị với Hội đồng Chính phủ những nguyên tắc về trang bị các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm khoa học và kỹ thuật, về phân công xây dựng và thực hiện kế hoạch vật tư thiết bị khoa học và kỹ thuật và danh mục những vật tư, thiết bị quý hiếm, đắt tiền do Nhà nước thống nhất quản lý và phân phối, và đã ban hành quy phạm tạm thời về bảo quản thiết bị, dụng cụ nghiên cứu, thí nghiệm.
e. Nghị định 67-CP chưa quy định rõ việc Uỷ ban tham gia quản lý tài chính cho khoa học và kỹ thuật nên thời kỳ này cũng như thời kỳ đầu, Uỷ ban chưa tham gia vào việc xác định ngân sách cho khoa học và kỹ thuật, chưa thực hiện việc cân đối tài chính cho các nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật do đó số tiền mà ngân sách Nhà nước hàng năm dành cho khoa học và kỹ thuật thường không đủ chi cho nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chứ chưa nói đến chi cho sản xuất thử, đây là một nguyên nhân làm chậm đưa nghiên cứu đến kết quả và chậm đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
g. Về hợp tác quốc tế, từ năm 1970 về trước, Uỷ ban mới quản lý việc hợp tác khoa học với các Viện hàn lâm. Từ năm 1970 về sau Uỷ ban được giao thêm nhiệm vụ quản lý phần hợp tác khoa học kỹ thuật do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước phụ trách. Từ 1965 đến 1972, phương hướng hợp tác khoa học kỹ thuật chủ yếu là nhập thiết kế, đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật phục vụ các yêu cầu sản xuất và chiến đấu trước mắt và chuẩn bị cho xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Từ năm 1973, phương hướng hợp tác khoa học kỹ thuật mở rộng thêm nhằm chuẩn bị cho hợp tác kinh tế, giúp Việt Nam nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu sang nước bạn và nghiên cứu một số vấn đề khoa học và kỹ thuật mà 2 bên cùng quan tâm. Uỷ ban đã cố gắng tổ chức thực hiện được chương trình hợp tác khoa học và kỹ thuật hàng năm.
5. Trong quản lý khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban rất coi trọng việc phân công hợp lý và phối hợp chặt chẽ với các Bộ, Tổng cục, các Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố mà Nghị định 67-CP đã nêu thành một trong những nhiệm vụ cụ thể của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước.
Trải qua 10 năm vừa làm vừa thể nghiệm, nhận thức về nội dung và trách nhiệm quản lý tập trung, thống nhất công tác khoa học và kỹ thuật sáng tỏ dần, nên Uỷ ban ngày 25 tháng 11 năm 1968 đã đưa ra đề án, và ngày 18 tháng 6 năm 1969 lại có công văn đề nghị việc phân công phân cấp trong quản lý công tác khoa học và kỹ thuật. 13 Bộ, Tổng cục đã phát biểu ý kiến, nói chung nhất trí với đề nghị của Uỷ ban.
Cũng như quản lý kinh tế, quản lý khoa học và kỹ thuật cần được phân công, phân cấp theo nguyên tắc vừa mở rộng dân chủ vừa tăng cường tập trung: Bộ, Tổng cục chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý một hoặc nhiều ngành sản xuất thuộc Bộ, Tổng cục, UBHC tỉnh, thành phố chịu hoàn toàn trách nhiệm về quản lý các ngành sản xuất trong địa phương, do đó phải chịu trách nhiệm chính trong việc phát triển khoa học và kỹ thuật, không ngừng nâng cao trình độ khoa học và kỹ thuật nhằm bảo đảm sản xuất và tái sản xuất mở rộng của các ngành thuộc Bộ, Tổng cục, thuộc tỉnh, thành phố. Những vấn đề có tính chất riêng của ngành, của địa phương và Bộ, tổng cục, tỉnh, thành phố giải quyết được thì để Bộ, tổng cục, tỉnh, thành phố làm, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước có thể phát hiện, đề xuất và giúp đỡ nếu cần, chứ không nên làm thay. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước cần giúp Chính phủ quản lý tập trung, thống nhất các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách, luật lệ, quy hoạch, kế hoạch chung của Đảng và Chính phủ, nếu không mỗi ngành, mỗi địa phương làm theo một kiểu, một cách riêng của mình thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến phát triển kinh tế, phát triển khoa học và kỹ thuật về toàn cục, về lâu dài. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chỉ phụ trách những vấn đề có tính chất chung cho tất cả các ngành, các địa phương, hoặc liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương, những vấn đề mà từng Bộ, tổng cục hoặc từng tỉnh, thành phố không giải quyết được, những vấn đề quan trọng mà Nhà nước cần đặc biệt quan tâm. Ngoài nguyên tắc chung, Uỷ ban còn đề nghị nội dung phân công cụ thể giữa Uỷ ban và các Bộ, uỷ ban Nhà nước khác .
Theo tinh thần đó, ngày 22 tháng 11 năm 1968, Uỷ ban đã dự thảo thông tư về kiện toàn tổ chức các Ban khoa học và kỹ thuật địa phương nhằm quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Ban cho đúng chức năng quản lý tổng hợp, thống nhất khoa học - kỹ thuật ở địa phương, khắc phục tình trạng lúng túng về nội dung hoạt động hoặc sa vào tổ chức nghiên cứu những vấn đề KHKT chuyên ngành dẫm chân lên các Sở, ty. Ngày 15 tháng 9 năm 1970, đã có công văn số 909 CV/UBKHKT đề nghị các Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố, trong khi chấp hành chủ trương cải tiến tổ chức, tinh giản bộ máy các cấp ở địa phương, cần chờ Phủ thủ tướng hướng dẫn cụ thể chứ không vội vàng thu nhỏ hoặc giải thể Ban khoa học và kỹ thuật địa phương. Ngày 15 tháng 12 năm 1971, Uỷ ban đưa ra đề án chấn chỉnh, tăng cường Vụ Khoa học và kỹ thuật và Hội đồng Khoa học và kỹ thuật của Bộ, tổng cục . Ngày 25 tháng 8 năm 1973 Uỷ ban đã có tờ trình số 576-KHKT/TC về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, theo văn kiện này, Uỷ ban đề nghị Hội đồng Chính phủ giao cho Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chức năng duy nhất là quản lý tập trung, thống nhất công tác khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước để có điều kiện tập trung lực lượng và trí tuệ thực hiện tốt chức năng nặng nề, phức tạp, cấp bách này, để bảo đảm sự khách quan, vô tư của Uỷ ban trong việc giúp Chính phủ xây dựng, phát triển mạng lưới cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật chung của cả nước, đồng thời đề nghị thành lập một trung tâm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trực thuộc Hội đồng Chính phủ với chức năng nghiên cứu những vấn đề có tính chất tổng hợp, lý luận, dài hơi, cần thiết cho sự phát triển trước mắt và sau này của nền kinh tế và nền khoa học và kỹ thuật nước nhà.
Đầu năm 1975, trước ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, Uỷ ban đã cử 1 đoàn cán bộ chủ chốt vào khảo sát tình hình khoa học và kỹ thuật của miền Nam. Tháng 9 năm 1975, Uỷ ban đã trình Hội đồng Chính phủ một báo cáo đánh giá sơ bộ tình hình khoa học và kỹ thuật của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, tình hình công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, tình hình đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật ở Miền Nam và đề nghị nhiệm vụ công tác khoa học và kỹ thuật và chính sách đối với tri thức ở miền Nam. Sau đócòn cử nhiều cán bộ tham gia các đoàn của Chính phủ đi kiểm kê đánh giá tài sản ở các cơ sở miền Nam.
Nhìn chung, trong hoàn cảnh chiến tranh, Đảng và Chính phủ không có điều kiện chăm lo nhiều cho khoa học và kỹ thuật, và các ngành, các địa phương lo duy trì sản xuất hơn là hoạt động khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã chuyển hướng công tác của mình theo tinh thần chỉ thị 163-CP và Nghị quyết 157-NQ/TW. Các hoạt động tham mưu và quản lý của Uỷ ban đã có tác dụng nhất định trong việc hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương duy trì và chuyển hướng công tác khoa học và kỹ thuật phù hợp với thời chiến, trong việc tập hợp lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật vào một số vấn đề cấp thiết đối với sản xuất, chiến đấu và đời sống trước mắt, vào một số công tác quan trọng chuẩn bị phục vụ lâu dài sau chiến tranh.
Các cơ quan quản lý, nghiên cứu và phục vụ khoa học kỹ thuật của Uỷ ban đều ít nhiều được kiện toàn tổ chức, tăng thêm cán bộ, cải tiến công tác nên năng suất, chất lượng và hiệu quả công tác đã khá hơn tuy chưa cao, chưa đều.
Công tác quản lý khoa học kỹ thuật vốn còn mới mẻ nay lại phải chuyển hướng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, với sự phân công, phân nhiệm theo nghị quyết 157 NQ/TW của Ban bí thư, nên Uỷ ban cũng không tránh khỏi lúng túng trong tổ chức bộ máy quản lý khoa học kỹ thuật sao cho hợp lý, cho có hiệu lực, cũng như trong hoạt động quản lý khoa học kỹ thuật sao cho thực quán triệt phương châm kết hợp trước mắt với lâu dài, kết hợp Trung ương với địa phương không quá coi trọng mặt này mà xem nhẹ mặt khác. Tồn tại cơ bản cũng là phương hướng phấn đấu sắp tới của đội ngũ cán bộ Uỷ ban là phải cố gắng không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật, hiểu biết thực tiễn và nghiệp vụ công tác để thực hiện được chức năng quản lý thống nhất công tác khoa học kỹ thuật trong phạm vi cả nước.
Thời kỳ 1976-1985
Thời kỳ Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước thực hiện chức năng quản lý KH-KT (khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật) trong hoàn cảnh cả nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa phải đói phó với 2 cuộc chiến tranh biên giới, tình hình kinh tế và đời sống sau chiến tranh rất khó khăn.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử mới "giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" (Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam).
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi như lực lượng lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú, kinh tế hai miền Bắc Nam bổ sung hỗ trợ cho nhau tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học và kỹ thuật của cả nước tăng lên gấp bội, mở ra những triển vọng to lớn, song cũng có nhiều khó khăn như cơ sở vật chất - kỹ thuật còn yếu kém, cơ cấu kinh tế chưa cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chưa bảo đảm được nhu cầu đời sống và tích luỹ, bắt nguồn từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, lại bị chiến tranh lâu năm và chủ nghĩa thực dân mới kìm hãm, phá hoại nặng nề. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học và kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học và kỹ thuật là then chốt, là một quá trình phấn đấu xây dựng nước Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế công nông nghiệp hiện đại, nền văn hoá và khoa học-kỹ thuật tiên tiến, nền quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc.
Trước yêu cầu to lớn và cấp báchvề phát triển khoa học và kỹ thuật trong giai đoạn mới, Hội đồng Chính phủ đã quyết định tách khối nghiên cứu ra khỏi Uỷ ban để thành lập Viện Khoa học Việt Nam (Nghị định 118-CP ngày 20/5/1975) nhằm tạo điều kiện tăng cường đồng thời cả hai lĩnh vực nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và quản lý khoa học - kỹ thuật, và đã ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước theo Nghị định 192/CP ngày 13 tháng 10 năm 1975:
A. chức năng - nhiệm vụ của UBKHKTNN :
Theo điều lệ tổ chức và hoạt động mới này, "UBKHKTNN là cơ quan trung ương của Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý Nhà nước về lĩnh vực khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, thực hiện chính sách phát triển khoa học và kỹ thuật của Đảng và Chính phủ nhằm phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng".
UBKHKTNN thời kỳ này có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu trình TW Đảng và Hội đồng Chính phủ quyết định đường lối xây dựng và phát triển khoa học và kỹ thuật, các chính sách lớn, các phương hướng, chủ trương và biện pháp lớn về khoa học và kỹ thuật của Nhà nước.
2. Nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao, tự mình ban hành các chế độ, thể lệ, quy định về công tác quản lý khoa học và kỹ thuật nhằm xây dựng nền nếp quản lý khoa học và kỹ thuật trong cả nước.
3. Thống nhất quản lý nhà nước các mặt công tác sau đây theo đúng chế độ, thể lệ của Hội đồng Chính phủ.
a. Chịu trách nhiệm quản lý kế hoạch Nhà nước về nghiên cứu khoa học và kỹ thuật về điều tra tài nguyên và điều kiện thiên nhiên, về xây dựng, cải tiến và áp dụng các tiêu chuẩn, quy phạm nhà nước, về bảo đảm và nâng cao chất lượng các sản phẩm quan trọng của nền kinh tế quốc dân, về hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài.
b. Quản lý công tác đo lường, tiêu chuẩn hoá và chất lượng sản phẩm trong phạm vi cả nước. Cùng với các ngành, các cấp xây dựng hệ thống tổ chức quản lý đo lường, tiêu chuẩn, kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá của Nhà nước. Trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao tự mình ban hành những chế độ thể lệ về quản lý các công tác nói trên trong phạm vi cả nước. Giữ các chuẩn đo lường cấp nhà nước và kiểm định các thiết bị, dụng cụ đo lường chuẩn, tổ chức xây dựng tiêu chuẩn cấp Nhà nước.
c. Quản lý công tác sáng chế, phát minh (SCPM) trong nước và quản lý việc trao đổi SCPM với nước ngoài, đề nghị Hội đồng Chính phủ cấp bằng và khen thưởng đối với những SCPM thuộc phạm vi khen thưởng của Hội đồng Chính phủ, trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao, tự mình ban hành các chế độ, thể lệ về quản lý công tác SCPM trong phạm vi cả nước, cùng với các ngành, các cấp tổ chức thực hiện các chế độ, thể lệ ấy.
d. Quản lý công tác thông tin và tư liệu khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, cùng với các ngành, các cấp xây dựng tổ chức thông tin và tư liệu khoa học và kỹ thuật. Thực hiện chức năng trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật của Nhà nước.
e. Nghiên cứu và kiến nghị với Hội đồng Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan nghiên cứu và thí nghiệm khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước.
g. Tổng hợp và cân đối trong phạm vi cả nước các nhu cầu về tài chính, vật tư, thiết bị (thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ), cán bộ khoa học và kỹ thuật, xây dựng cơ bản để phục vụ công tác nghiên cứu, thí nghiệm và điều tra tài nguyên và điều kiện thiên nhiên để làm căn cứ cho Uỷ ban kế hoạch xây dựng kế hoạch kinh tế quốc dân. Trong trường hợp cần thiết được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền UBKHKTNN điều hoà vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật được ghi trong danh mục do Nhà nước thống nhất quản lý và phân phối (danh mục này do UBKHKTNN cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Vật tư lập và trình Hội đồng Chính phủ phê chuẩn).
4. Phối hợp với các cơ quan hữu quan của Hội đồng Chính phủ trên các mặt công tác:
a. Cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước nghiên cứu và hướng dẫn các ngành, các địa phương thực hiện chế độ, phương pháp xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật. Theo tinh thần đó, UBKHKTNN, khi thấy cần, tham gia các hội nghị bảo vệ kế hoạch ngành và kế hoạch địa phương do Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chủ trì, và phát biểu ý kiến về phần quan hệ giữa kế hoạch khoa học và kỹ thuật với kế hoạch phát triển kinh tế.
b. UBKHKTNN kiến nghị với Hội đồng Chính phủ việc đưa ra các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong nước hoặc ngoài nước vào sản xuất làm căn cứ cho Uỷ ban kế hoạch Nhà nước tổng hợp kế hoạch tiến bộ kỹ thuật và cân đối chung trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân (KTQD).
c. Phối hợp với Uỷ ban quan hệ kinh tế với nước ngoài của Hội đồng Chính phủ quản lý công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài của Nhà nước. Trong phạm vi được Hội đồng Chính phủ uỷ quyền, UBKHKTNN ký kết với các cơ quan khoa học và kỹ thuật nước ngoài các văn kiện về hợp tác và trao đổi khoa học và kỹ thuật.
d. Trên cơ sở tổng hợp các kế hoạch nêu ở điểm 3 a, UBKHKTNN phối hợp với Bộ Tài chính trong việc lập kế hoạch bộ phận ngân sách Nhà nước (cả phần ngoại tệ) chi cho công tác khoa học và kỹ thuật có dự kiến phân bổ cho các ngành, các cấp, cấp và quản lý việc sử dụng kinh phí cho công tác khoa học và kỹ thuật, xây dựng các chính sách, chế độ tài chính áp dụng trong công tác khoa học và kỹ thuật.
e. Cùng với Bộ Vật tư và các cơ quan hữu quan khác nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ những chính sách, chế độ về quản lý vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật trên các mặt sản xuất trong nước, nhập khẩu, sử dụng, bảo quản, sửa chữa, v.v...
g. Cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và các cơ quan hữu quan khác của Đảng và Nhà nước xây dựng phương hướng, kế hoạch về đào tạo, phân phối và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật.
5. Hướng dẫn và chỉ đạo nghiệp vụ về các mặt công tác mà UBKHKTNN phụ trách và tham gia ý kiến về xây dựng và phát triển công tác khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương.
6. Tiến hành chức trách kiểm tra Nhà nước ở các ngành, các cấp về các mặt công tác khoa học và kỹ thuật mà UBKHKTNN phụ trách. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, UBKHKTNN nghiên cứu, trình Hội đồng Chính phủ những biện pháp lớn nhằm chấn chỉnh và phát triển mạnh mẽ, đúng hướng và có hiệu quả công tác khoa học và kỹ thuật.
7. UBKHKTNN có quyền đôn đốc các ngành, các cấp gửi dự án kế hoạch khoa học và kỹ thuật theo đúng nội dung và thời gian quy định, báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch khoa học và kỹ thuật theo chế độ quy định, các ngành, các cấp phải cung cấp tình hình và tài liệu cần thiết mà UBKHKTNN yêu cầu theo nhu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về các linh vực khoa học và kỹ thuật.
8. Làm thường trực cho các Hội đồng tư vấn về khoa học và kỹ thuật của Hội đồng Chính phủ và bảo đảm cho sự hoạt động của các Hội đồng đó theo phân công của Hội đồng Chính phủ.
9. Nghiên cứu cải tiến tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật theo phương hướng cải tiến tổ chức nền KTQD của Đảng và Nhà nước, tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý khoa học và kỹ thuật trong cả nước.
10. Quản lý tổ chức, cán bộ, biên chế, kinh phí và tài sản của cơ quan theo chính sách, chế độ chung của Nhà nước.
B. Cơ cấu tổ chức của UBKHKTNN :
1. UBKHKTNN được tổ chức và làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp với bàn bạc tập thể. Chủ nhiệm UBKHKTNN chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Hội đồng Chính phủ về toàn bộ công tác của Uỷ ban.
Chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban thời kỳ này do ông Trần Đại Nghĩa (1976-3/1977), ông Trần Quỳnh (3/1977-5/1980), ông Lê Khắc (5/1980-1982), ông Đặng Hữu (1982 - 12/1996) lần lượt đảm nhiệm.
Các Phó chủ nhiệm Uỷ ban:ông Lê Khắc (1976-2/1980), ông Đoàn Phương (từ 2/1978 - 3/ 1993), ông Bùi Huy Đáp (1978-1985), ông Hoàng Đình Phu (6/1980 - 4/1988), ông Nguyễn Ngọc Trân (6/1980-10/1992). ông Đường Hồng Dật (12/82 - 8/87), ông Lê Quý An (12/1982 - 1/1996), Các ông Đoàn Phương, Hoàng Đình Phu kế tiếp nhau làm phó chủ nhiệm thường trực. Các uỷ viên Uỷ ban: ông Trần Trí và ông Lê Tâm.
2. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật:
- Vụ Tổng hợp và kế hoạch khoa học và kỹ thuật.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật công nghiệp.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật Nông - Sinh - Y.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật xây dựng - giao thông - thuỷ lợi.
- Vụ Quản lý khoa học cơ bản.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật điều tra và bảo vệ tài nguyên và điều kiện thiên nhiên.
- Vụ Hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài.
- Cục Tiêu chuẩn.
- Cục Đo lường.
- Cục kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Viện Định chuẩn, tiếp quản sau giải phóng miền Nam.
Theo Quyết định số 325/CP ngày 13 tháng 4 năm 1979, 3 Cục Tiêu chuẩn, đo lường, kiểm tra chất lượng sản phẩm và Viện địch chuẩn sáp nhập thành Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Nhà nước. Cục có 3 Trung tâm quản lý theo khu vực : Trung tâm TCĐLCL khu vực I ở Hà Nội, Trung tâm TCĐLCL khu vực II ở Đà Nẵng, Trung tâm TCĐLCL khu vực IIII ở Thành phố Hồ Chí Minh và 2 Trung tâm quản lý theo lĩnh vực : Trung tâm đo lường, Trung tâm tiêu chuẩn - chất lượng.
Theo Nghị định 22/HĐBT ngày 8 tháng 2 năm 1984, Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Nhà nước được chuyển thành Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng.
- Phòng quản lý sáng chế - phát minh. Cục sáng chế được thành lập từ tháng 7/ 1982 theo Nghị định 125/ HĐBT.
- Cục máy tính điện tử.
- Vụ Vật tư - Thiết bị khoa học và kỹ thuật, thành lập theo Quyết định 125/HĐBT.
- Bộ phận quản lý khoa học và kỹ thuật địa phương. Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật địa phương thành lập theo quyết định 125/HĐBT.
- Tổ quản lý cán bộ khoa học và kỹ thuật tách khỏi Vụ tổng hợp - kế hoạch từ tháng 6/1978.
3. Các cơ quan nghiên cứu khoa học:
- Tổ nghiên cứu chính sách khoa học và kỹ thuật, tách khỏi Vụ tổng hợp - kế hoạch từ 9/1978, phát triển thành Ban Nghiên cứu tổ chức và quản lý khoa học và kỹ thuật theo Quyết định 125/HĐBT.
- Văn phòng tiểu ban nghiên cứu chiến lược khoa học và kỹ thuật.
- Viện Nghiên cứu hạt nhân, thành lập theo quyết định 64/CP ngày 25/4/1976. Sau một thời gian, Viện này được tách ra để thành lập Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia.
4. Các cơ quan kinh doanh, dịch vụ:
- Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật có chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty máy tính điện tử IBM, tiếp quản sau giải phóng miền Nam.
- Công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật (TECHNIMEX) thành lập năm 1982.
- Công ty vật tư khoa học và kỹ thuật thành lập năm 1983.
5. Các cơ quan quản lý và hành chính sự nghiệp khác:
- Viện Thông tin khoa học và kỹ thuật trung ương.
- Thư viện khoa học kỹ thuật Trung ương.
- Tạp chí hoạt động khoa học và kỹ thuật.
- Văn phòng Uỷ ban.
- Vụ Tổ chức - cán bộ.
- Ban thi đua - khen thưởng.
- Ban Thanh tra.
- Tổ xét duyệt trữ lượng khoáng sản.
- Phòng giáo dục sau đổi tên thành Phòng Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Bộ phận thường trực của Uỷ ban tại TP. Hồ Chí Minh, thành lập năm 1982.
6. Các Hội đồng khoa học và kỹ thuật chuyên ngành, liên ngành, để làm tư vấn về khoa học và kỹ thuật cho Uỷ ban.
Thừa hưởng kinh nghiệm hoạt động từ các thời kỳ trước, lại được tăng cường về chức trách và tổ chức, hoạt động của Uỷ ban thời kỳ này tiến bộ rõ rệt và có hiệu quả hơn. Trong năm 1975, Uỷ ban đã tranh thủ cử nhiều cán bộ chủ chốt vào khảo sát tình hình khoa học và kỹ thuật miền Nam để chuẩn bị triển khai các hoạt động tham mưu và quản lý của mình trong phạm vi cả nước.
1. Công tác tham mưu thời kỳ này có mấy việc nổi bật: Uỷ ban đã đóng góp nhiều vào việc dự thảo Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành ngày 20 / 4 / 1981 về chính sách khoa học và kỹ thuật thống nhất cho cả nước và Nghị quyết 51-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng được ban hành ngày 17 tháng 5 năm 1983 về công tác khoa học và kỹ thuật năm 1983 và những năm tiếp theo. Hai Nghị quyết quan trọng của Đảng và Chính phủ trên đây đã phát huy tác dụng chỉ đạo, thúc đẩy hoạt động khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương trong cả nước phục vụ có hiệu quả hơn các yêu cầu phát triển kinh tế trước mắt và lâu dài. Uỷ ban đã phối hợp với Phủ Thủ tướng tổ chức hai Hội nghị khoa học và kỹ thuật toàn quốc, gồm cán bộ lãnh đạo và cán bộ khoa học và kỹ thuật chủ chốt của các ngành và một số địa phương, Hội nghị lần thứ nhất họp vào tháng 10/1976 nhằm thảo luận xác định cụ thể thêm một số vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật ở nước ta theo yêu cầu của giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ hai họp vào đầu năm 1978 nhằm thảo luận xác định những phương hướng công tác khoa học và kỹ thuật và những chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm phục vụ nhiệm vụ phát triển nông nghiệp toàn diện ở nước ta. Uỷ ban tiến hành tổ chức việc nghiên cứu dự báo và chiến lược khoa học và kỹ thuật làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế, phát triển khoa học và kỹ thuật. Uỷ ban cũng đã làm tham mưu về một số vấn đề cụ thể quan trọng như vấn đề sử dụng đất đồi núi, vấn đề dầu khí, vấn đề công trình Sông Đà, v.v. .. Tuy nhiên Uỷ ban còn thiếu chủ động nghiên cứu sẵn những vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược, dự kiến cấp trên có thể hỏi đến, để khỏi bị động nghiên cứu một cách vội vàng khi cấp trên yêu cầu. Uỷ ban chưa tham gia hoặc chưa được tham gia nghiên cứu góp ý kiến với Nhà nước một cách thường xuyên về vấn đề nhập kỹ thuật cho thích hợp và có hiệu quả. Trong tờ trình số 324 KHKT ngày 14 tháng 3 năm 1984 Uỷ ban có đề nghị HĐBT giao cho Uỷ ban nhiệm vụ giúp HĐBT xem xét hiệu quả của việc nhập kỹ thuật và các căn cứ khoa học kỹ thuật của các chủ trương đầu tư kinh tế quan trọng, tổ chức giám định công nghệ đối với những công trình quan trọng dự định xây dựng nhằm góp phần bảo đảm cho việc đầu tư của Nhà nước có hiệu quả hơn.
2. Công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật thời kỳ này có chuyển biến tốt: Nội dung kế hoạch khoa học và kỹ thuật toàn diện hơn như đã nêu trong nhiệm vụ thống nhất quản lý Nhà nước của Uỷ ban. Từ kế hoạch hoá theo vấn đề, đề tài trong 2 thời kỳ trước, Uỷ ban bắt đầu kế hoạch hoá theo chương trình có mục tiêu từ năm 1978, để tập trung lực lượng khoa học và kỹ thuật vào thực hiện những mục tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu; Thời kỳ này với sự giúp đỡ của các cố vấn Liên Xô, Uỷ ban đã tổ chức xây dựng và quản lý việc thực hiện một hệ thống 76 chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước góp phần hạn chế tình trạng phân tán, nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu, triển khai và áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật.
Kinh phí hoạt động khoa học kỹ thuật có hạn (năm 1985 mới chiếm 0,65 % ngân sách chi của Nhà nước), giá cả biến động ngày một cao, Uỷ ban đã cố gắng tập trung đầu tư cho các chương trình. Kinh nghiệm quản lý chương trình chưa có gì, nhưng với sự nỗ lực của các Ban chủ nhiệm chương trình và sự hỗ trợ tích cực của lãnh đạo các ngành, các địa phương nên hầu hết các chương trình đã được triển khai thực hiện trong đó khoảng 1000 đề tài đã kết thúc, hơn 300 thành tựu quan trọng được kiến nghị áp dụng vào sản xuất.
Về khoa học xã hội, đã góp phần cụ thể hoá đường lối của Đảng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, và đề xuất những vấn đề về chiến lược kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ chế quản lý, đã biên soạn nhiều công trình có giá trị về lịch sử, văn học, về xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, lối sống mới, đã góp phần đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phản động...
Về khoa học tự nhiên, đã hoàn thành bản đồ địa chất miền Nam tỷ lệ 1/500.000, bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 cho vùng trung du Bắc Bộ, đã hoàn thành điều tra tổng hợp một số vùng lãnh thổ, lãnh hải và tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất đến năm 2000, sơ đồ môi sinh và bảo vệ môi trường vùng Đông Nam bộ đến năm 2000. Đã tiến hành nhiều công trình lý thuyết có giá trị về toán học, cơ học, vật lý, hoá học được đánh giá tốt trong và ngoài nước. Trên cơ sở đánh giá tài nguyên sinh vật, đã đề xuất các biện pháp khai thác hợp lý, đã áp dụng công nghệ sinh học trong nhân giống, điều chế chất kích thích sinh trưởng.
Về khoa học nông nghiệp, đã góp phần vào việc phát triển nông nghiệp toàn diện, đảm bảo lương thực - thực phẩm và một phần nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Thành tựu nổi bật nhất là năm 1985, đã đưa năng suất lúa lên 28,5 tạ/ha/vụ và tổng sản lượng lương thực lên tới 18,2 tấn/năm.
Về khoa học y dược, đã giải quyết có hiệu quả các bệnh sốt rét và sốt xuất huyết; một số kỹ thuật hiện đại như vi phẫu thuật, ghép giác mạc được áp dụng thành công, một số kỹ thuật cổ truyền như châm cứu được áp dụng rộng rãi, đã bào chế được nhiều loại thuốc từ nguyên liệu trong nước.
Về khoa học kỹ thuật, đã góp phần giải quyết những khó khăn về nguyên, nhiên, vật liệu và phụ tùng thay thế lâu nay phải nhập khẩu. Đã thiết kế chế tạo được một số dây chuyền sản xuất công nghiệp, một số phương tiện vận tải thuỷ quy mô nhỏ và vừa. Đã áp dụng có kết quả nhiều giải pháp kỹ thuật tiên tiến trong thi công xây dựng các công trình lớn như Nhiệt điện Phả Lại, Thuỷ điện Hoà Bình, Cầu Thăng Long, Cầu Chương Dương. Đã bước đầu xây dựng công nghiệp điện tử ở nước ta.
Uỷ ban đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 263-CP ngày 27/6/1981 về chế độ kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật, Nghị định 122-HĐBT ngày 20 tháng 7 năm 1982 về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước, quyết định 175-CP ngày 29 tháng 4 năm 1981 về ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, và tự mình ban hành quyết định số 271/QĐ về "Quy định việc dăng ký đề tài nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và nộp báo cáo kết quả nghiên cứu", Quyết định số 262/QĐ về "Quy định thể thức đánh giá và nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật", nhằm tăng cường tình pháp lệnh của kế hoạch khoa học và kỹ thuật, đưa công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật vào nền nếp, nhằm mở rộng quyền chủ động của các cơ quan nghiên cứu, triển khai và đưa đòn bẩy kinh tế vào cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật. Năm 1981, Uỷ ban đã cùng Uỷ ban kế hoạch Nhà nước thống nhất quy định chế độ phối hợp giữa 2 Uỷ ban trong việc xây dựng các chương trình tổng hợp có mục tiêu kinh tế, các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm, kế hoạch áp dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của sản xuất và sản phẩm, các đề án kinh tế - kỹ thuật, kế hoạch công tác tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, kế hoạch cân đối các nhu cầu về tài chính, vật tư, cán bộ, xây dựng cơ bản cho công tác khoa học và kỹ thuật, để việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế có đủ căn cứ khoa học và kỹ thuật và việc xây dựng kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật xuất phát từ nhu cầu và khả năng của nền kinh tế quốc dân. Công tác kế hoạch hoá còn phải tiếp tục, xây dựng thêm kế hoạch KHKT dài hạn để hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch KHKT và để làm cơ sở cho kế hoạch 5 năm và hàng năm.
3, Công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng thời kỳ này phát triển khá nhanh, có tác dụng tốt đối với quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật, bảo đảm chất lượng một số sản phẩm quan trọng trong điều kiện sản xuất có nhiều khó khăn, hạn chế tiêu cực trong sản xuất và lưu thông phân phối.
Uỷ ban đã đề nghị Chính phủ ban hành Điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá (kèm theo Nghị định 62/CP ngày 12 tháng 4 năm 1976), Điều lệ về công tác tiêu chuẩn hoá (kèm theo Nghị định 141/HĐBT ngày 24/8/1982); đã cùng Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Uỷ ban Vật giá Nhà nước ban hành Thông tư liên bộ số 415 -TTLB ngày 23 tháng 11 năm 1977 về một số biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm và hàng hoá, đã cùng Uỷ ban vật giá Nhà nước và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên bộ số 776/TTLB ngày 28 tháng 6 năm 1983 quy định việc khuyến khích vật chất những sản phẩm công nghiệp mang dấu chất lượng Nhà nước. Như vậy là đến hết thời kỳ này , Uỷ ban đã xây dựng nhiều văn bản pháp quy được Chính phủ ban hành hoặc tự mình ban hành làm cơ sở pháp lý và nghiệp vụ cho các công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường , quản lý chất lượng sản phẩm. Đã cùng các ngành, các địa phương xây dựng được một hệ thống tổ chức quản lý đo lường, tiêu chuẩn, chất lượng từ Trung ương đến cơ sở, một hệ thống tiêu chuẩn bốn cấp : Nhà nước (TCVN), ngành (TCN), địa phương (TCV), cơ sở (TC). Tính đến cuối năm 1985 Uỷ ban và các ngành, các địa phương, các cơ sở đã xây dựng và ban hành 4600 TCVN, 2000 TCN, 1000 TCV và 7000 TC. Nhiều tiêu chuẩn đã được áp dụng trong sản xuất, trong ký kết hợp đồng gia công, mua bán, trong định giá. Tuy nhiên cũng cần xây dựng thêm những TC đồng bộ từ nguyên liệu cho đến thành phẩm cho dễ thực hiện hơn, cũng cần xem xét lại một số TC không còn thích hợp với điều kiện sản xuất mới. Một hệ thống chuẩn đo lường đã bảo đảm được công tác kiểm định của Tổng cục TCDLCL đối với các chuẩn và thiết bị đo lường cấp chính xác cao, cũng như công tác kiểm định của các chi cục TCDLCL, đối với các dụng cụ đo lường đang sử dụng hoặc mới sản xuất ở địa phương. Việc sản xuất các dụng cụ đo lường được mở rộng hơn nhằm khắc phục tình trạng dụng cụ đo lường vưà thiếu vừa kém chính xác. Hàng năm đã sản xuất được hàng trăm ngàn dụng cụ đo lường để dùng trong nước và xuất khẩu một phần, bao gồm quả cân chuẩn hạng 3, thước chuẩn độ dài các loại thước cặp, pan me công tơ điện, công tơ nước, ampekế, vôn kế, cồn kế, tỷ trọng xăng dầu, cân các loại, cân ô tô 15, 25, 30 tấn. Tổng cục đang triển khai chương trình cân đong lớn đối với xăng dầu, than và lương thực, và năm chương trình quản lý chất lượng hàng xuất khẩu: hải sản, cao su, săm lốp, xe đạp, rượu. Hàng năm đã tiến hành thanh tra, kiểm tra chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng của nhiều sản phẩm và hàng hoá thuộc diện Nhà nước quản lý chất lượng. Đã tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho hơn 1 vạn cán bộ làm các công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường, kiểm tra chất lượng, bồi dưỡng tay nghề và kiểm tra nâng bậc cho hàng trăm kiểm định viên, kiểm nghiệm viên của các ngành, các cấp.
Năm 1977, Hội nghị và triển lãm 15 năm hoạt động tiêu chuẩn hoá đã được tổ chức tại Hà Nội, đông đảo đại biểu các ngành, các địa phương trong cả nước đã tham dự.
Năm 1978, là thành viên của Ban thường trực TCH của SEV, Việt nam bắt đầu tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế.
Trong khuôn khổ quản lý thống nhất của Cục TCĐLCLNN, của Tổng cục TCĐLCL, ba mặt công tác này đã được tiến hành đồng bộ hơn nhưng cũng cần cố gắng kết hợp chặt chẽ hơn vơí các mặt quản lý kinh tế như kế hoạch và giá cả.
4. Thời kỳ này Uỷ ban đã tiếp tục cùng các ngành, các cấp hướng dẫn, động viên phong trào quần chúng phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, khắc phục được khá nhiều khó khăn trong sản xuất. Ngày 11 tháng 4 năm 1985 Uỷ ban đã cùng Tổng liên đoàn Lao động Việt nam và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ký kết quy chế phối hợp giữa ba tổ chức từ Trung ương đến cơ sở trong công tác này..
Đặc biệt là Uỷ ban đã tổ chức thành công hội nghị sáng kiến toàn quốc lần thứ nhất năm 1976 và Hội nghị sáng kiến toàn quốc lần thứ hai năm 1981 để tổng kết thành tích hoạt động sáng kiến đã qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ hoạt động sáng kiến sắp tới, đồng thời khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc. Hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá của quần chúng đi dần vào nề nếp và ngày càng có hiệu quả hơn.
Trước yêu cầu mở rộng đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật của nước nhà, Uỷ ban đã trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành điều lệ quản lý sáng kiến và sáng chế kèm theo nghị định số 31-CP ngày 23/1/1981, Điều lệ quản lý nhãn hiệu hàng hoá kèm theo Nghị định số 197-HĐBT ngày 14/12/1982, và bắt đầu triển khai hai công tác này. Cục sáng chế đã triển khai việc tiếp nhận đơn đăng ký và xét cấp bằng sáng chế, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tính đến cuối năm 1985, Uỷ ban đã cấp 24 Bằng sáng chế và 262 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đã bước đầu góp phần bảo vệ lợi ích của cơ sở sản xuất và người tiêu dùng. Uỷ ban cũng đã cố gắng hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương xây dựng lực lượng quản lý sáng kiến, sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá cho mạnh hơn.
5. Công tác kiểm tra, xét duyệt trữ lượng khoáng sản thời kỳ này làm được nhiều hơn và đi dần vào nền nếp. Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản dã ban hành một số quy định về nội dung và hình thức báo cáo, trình tự xét duyệt báo cáo, quy phạm phân cấp trữ lượng một số khoáng sản (như than, đá vôi, đá sét...). Khi cơ sở kết thúc công tác thực địa, chuyển sang tổng kết, làm báo cáo, thường trực Hội đồng cử cán bộ xuống cơ sở xem xét tình hình thực tế, tài liệu nguyên thuỷ và góp ý kiến ngay khi lập báo cáo để bảo đảm chất lượng báo cáo và rút ngắn thời gian kiểm tra khi báo cáo được trình duyệt. Công tác thường gặp một số khó khăn : Các cơ quan thăm dò khoáng sản đưa trình duyệt báo cáo thường chậm hơn thời hạn quy định của kế hoạch xét duyệt. Cơ quan khai thác chưa chú ý cử chuyên viên có trình độ, có kinh nghiệm tham gia kiểm tra, đánh giá báo cáo. Hội đồng chưa có điều kiện theo dõi tài liệu thực tế khai thác để đối chiếu với trữ lượng được phê chuẩn.
Hội đồng luôn huy động lực lượng KHKT của các Viện, Trường tham gia công tác kiểm tra, đánh giá các báo cáo thăm dò địa chất, tính trữ lượng khoáng sản. Hội đồng hoạt động có hiệu quả, nên năm 1978, Tổng cục Mỏ - địa chất đã giải thể Phòng Kiểm tra trữ lượng của Tổng cục để các đơn vị thăm dò có thể trình duyệt báo cáo tính toán trữ lượng khoáng sản lên thẳng Hội đồng.
6. Về quản lý việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật:
a. Uỷ ban đã tham gia đợt điều tra lao động khoa học và kỹ thuật năm 1982, trên cơ sở đó bổ sung dữ liệu về cán bộ trình độ trên đại học. Thi hành Nghị định 09-HĐBT, Uỷ ban đã có công văn hướng dẫn phương pháp xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ trình độ trên đại học trong 5 năm 1986-1990. Uỷ ban đã trình HĐBT ban hành chế độ công tác kiêm nhiệm của cán bộ khoa học và kỹ thuật. Thi hành Quyết định số 36/CP ngày 2 tháng 2 năm 1980 của HĐCP và theo sự hướng dẫn, phân công của Bộ Lao động, Uỷ ban đã tổ chức nghiên cứu xây dựng chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ chung cho các cấp chức vụ nghiên cứu khoa học và các cấp chức vụ kỹ thuật, xây dựng chức danh đây đủ và tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể cho các chức vụ viên chức thuộc hệ thống tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật (đề tài cáp Nhà nước 60A độc lập), để cơ quan, xí nghiệp có căn cứ đánh giá, phân công, đãi ngộ cán bộ khoa học và kỹ thuật cho đúng, lập kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật cho đúng và để từng cán bộ khoa học và kỹ thuật đặt mục tiêu, kế hoạch phấn đấu nâng cao trình độ của mình cho đạt yêu cầu của chức vụ được giao. Đối với trí thức Việt kiều, Uỷ ban đã giới thiệu cho những cốt cán của phong trào Việt kiều yêu nước ở một số nước nắm được Nghị quyết của Bộ Chính trị về chính sách khoa học và kỹ thuật, những chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước và những vấn đề cấp thiết của sản xuất, để có phương hướng, nội dung cụ thể mà vận động trí thức Việt kiều đóng góp xây dựng đất nước tuỳ theo khả năng của họ.
Đội ngũ cán bộ KHKT phát triển nhanh nhưng cơ cấu ngành nghề và trình độ chưa thật phù hợp với yêu cầu phát triển KHKT, cán bộ có trình độ cao còn thiếu nhiều trong cả mấy lĩnh vực sản xuất, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý; chính sách, chế độ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ KHKT làm việc còn ít, bộ phận quản lý cán bộ KHKT của Uỷ ban còn yếu.
b-Năm 1980, theo chỉ thị của Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ ban đã thành lập tổ nghiên cứu "Đề án thành lập Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam", và tham gia Ban Trù bị nghiên cứu cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam do đồng chí Bùi Thanh Khiết, trưởng ban khoa giáo TW, làm trưởng ban, và gồm đại biểu của Viện Khoa học Việt Nam, Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu khoa học giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Nông nghiệp, Bộ y tế, UBKHKTNN, Ban Tổ chức TW, Văn phòng 10 Phủ Thủ tướng. Ban này đã họp hai lần vào 1/4/1980 và 8/4/1980 để thảo luận đề án nhưng chưa đi đến nhất trí . Thời kỳ này, các cơ sở nghiên cứu, triển khai của Viện khoa học Việt Nam , Uỷ ban khoa học xã hội và của các ngành, các địa phương tăng nhanh, quá nhanh so với khả năng đầu tư xây dựng của Nhà nước, mặc dù Uỷ ban đã xuất phát từ các mục tiêu kinh tế và khoa học và kỹ thuật, từ thực trạng của các cơ quan nghiên cứu, triển khai, từ các nguồn viện trợ quốc tế, mà kiến nghị đầu tư xây dựng có trọng điểm, theo thứ tự ưu tiên, nhằm từng bước hình thành một mạng lưới hợp lý.
Đến cuối năm 1985, đã có 130 Viện nghiên cứu, 25 Viện thiết kế quy hoạch và một số Trung tâm nghiên cứu - triển khai, ngoài ra còn hàng trăm trạm, trại thí nghiệm, 93 Trường đại học và cao đẳng có hoạt động nghiên cứu - triển khai. Trong số này có khá nhiều cơ quan, phương hướng nghiên cứu không rõ, điều kiện nghiên cứu thiếu thốn, hoạt động gặp nhiều lúng túng, khó khăn. Uỷ ban đã làm việc với các Bộ, Tổng cục, đã mở nhiều Hội nghị Viện trưởng để bàn phương hướng, biện pháp củng cố, tăng cường các cơ quan nghiên cứu triển khai đã có.
Một thành tích nổi bật về phát huy tiềm lực khoa học kỹ thuật trong thời kỳ này là đã dần dần hình thành cơ chế mới trong quản lý các cơ quan nghiên cứu - triển khai, góp phần xoá bỏ từng bước cơ chế quản lý hành chính bao cấp: Theo đề nghị của UBKHKTNN, Hội đồng Bộ trưởng và các cơ quan quản lý Nhà nước đã không xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai vào loại hình cơ quan hành chính và các hoạt động khoa học kỹ thuật vào phạm trù công tác hành chính nữa, đã cho phép cơ quan nghiên cứu - triển khai được tiến hành 3 loại hoạt động: nghiên cứu - triển khai, dịch vụ khoa học kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm kỹ thuật cao hoặc sản phẩm có nhu cầu xã hội, nhưng chưa có điều kiện đầu tư sản xuất đại trà, được chủ động ký kết hợp đồng kinh tế về nghiên cứu - triển khai với các cơ quan, cơ sở có nhu cầu, được trích lập ba quỹ trong cơ quan từ hợp đồng kinh tế và từ bán sản phẩm chế thử, cho phép thực hiện chế độ tín dụng đối với cơ quan nghiên cứu - triển khai và chế độ kiêm nhiệm đối với cán bộ khoa học kỹ thuật.
c. Quản lý công tác thông tin, tư liệu khoa học và kỹ thuật thời kỳ này được tăng cường hơn : UBKHKTNN đã tổ chức Hội nghị thông tin KHKT toàn quốc lần thứ hai vào tháng 3 năm 1977 nhằm triển khai việc thực hiện Nghị quyết 89/CP trong phạm vi cả nước
Uỷ ban đã cùng các ngành, các địa phương xây dựng được 1 hệ thống tổ chức thông tin khoa học và kỹ thuật tuy chưa hoàn chỉnh nhưng đã gồm hơn 200 đơn vị lớn nhỏ và khoảng 1500 cán bộ, nhân viên chuyên trách. Viện thông tin khoa học và kỹ thuật trung ương đã bồi dưỡng được 1 đội ngũ cán bộ giảng dạy thông tin học cơ sở và hàng năm đã gửi 20 cán bộ thông tin sang học tại trường nâng cao trình độ thông tin IPKIR ở Mát xcơ va. Viện đã chuyển việc xuất bản những ấn phẩm thông tin kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành cho các cơ quan thông tin chuyên ngành đảm nhiệm, nay chỉ xuất bản những ấn phẩm thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý khoa học và kỹ thuật (về đường lối chính sách phát triển KHKT của các nước, về cách mạng KHKT của thế giới, về tổ chức quản lý KHKT...), những ấn phẩm tóm tắt các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong nước, và những ấn phẩm hướng dẫn nghiệp vụ thông tin. Nội dung các ấn phẩm đó đã được nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu và giảng dạy khoa học và kỹ thuật thừa nhận có tác dụng nâng cao hiểu biết, giúp ích cho công tác. Viện còn thường xuyên tổ chức chiếu phim khoa học và kỹ thuật cho cán bộ lãnh đạo, quản lý khoa học và kỹ thuật xem và cho các cơ quan thuê mượn về chiếu. Viện đã mở thêm hình thức thông tin theo địa chỉ và bắt đầu sử dụng hình thức thông tin bằng triển lãm. Triển lãm "Những thành tựu về thông tin KHKT ở Liên Xô" đã được tổ chức năm 1982 ở Hà Nội với sự hợp tác cuả VINITI, sau triển lãm, phía Liên Xô đã tặng Viện toàn bộ thiết bị triển lãm. Viện đã phân bổ kinh phí và giấy in hàng năm cho các ngành, đã theo dõi giúp đỡ cơ quan thông tin khoa học và kỹ thuật của một số ngành, địa phương trọng điểm. Các dịch vụ thông tin KHKT bắt đầu có khó khăn vì nguồn bổ sung tài liệu của các nước Tư bản Chủ nghĩa giảm dần.
Thời kỳ này,Thư viện khoa học và kỹ thuật TW và Viện Thông tin khoa học và kỹ thuật TW đã bước đầu phối hợp với nhau mua sách báo cho đỡ trùng lặp - Tổng cục TCĐLCL và Cục Sáng chế cũng đã xây dựng được kho tư liệu phong phú về tiêu chuẩn kỹ thuật và mô tả sáng chế. Sau kháng chiến chống Mỹ, các phong trào Quốc tế quyên góp sách báo cho Việt nam không còn nữa, từ năm 1979 Trung Quốc cũng ngừng cung cấp tài liệu chụp lại các tạp chí tư bản. Ngoại tệ nhập sách báo rất có hạn. Để khắc phục một phần khó khăn kể trên, Thư viện KHKT TW đã cố gắng duy trì và mở rộng quan hệ quốc tế của mình (đến 1985 đã có quan hệ trao đổi sách báo với 120 tổ chức của 40 nước và nhận tài liệu tặng từ các tổ chức quốc tế như UNESCO, ACCT, FAO, SAREC...) đã cố gắng bảo đảm bổ sung hàng năm được 3000 - 5000 tên sách và 2000 - 2500 tên tạp chí. Thư viện đã tổ chức biên soạn khá nhiều thư mục quan trọng như thư mục cây lúa, thư mục vật liệu xây dựng, thư mục cách mạng khoa học và kỹ thuật, thư mục cho cán bộ lãnh đạo. Thư viện vẫn cố gắng tổ chức tốt việc phục vụ ban đọc tại chỗ cũng như việc cho mượn về nhà, về cơ quan, vẫn tiếp tục tranh thủ sự đóng góp của công tác viên trong việc lựa chọn tài liệu bổ sung, kiểm tra mục lục phân loại, biên soạn thư mục, v.v... vẫn sẵn sàng tiếp nhận cán bộ của các thư viện mới thành lập đến học hỏi nghiệp vụ.
Tuy nhiên, Thư viện khoa học và kỹ thuật TW còn thiếu tài liệu về khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật, về các nước nhiệt đới, các nước Đông Nam á về quản lý kinh tế, quản lý khoa học và kỹ thuật, các mục lục liên hợp hầu như chưa có.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về in và giấy, nhưng Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật đã đặt thêm chi nhánh ở Thành phố Hồ Chí Minh và cố gắng bảo đảm hoàn thành, có năm hoàn thành vượt mức kế hoạch xuất bản sách báo. Thể loại sách xuất bản phù hợp với chức năng của một nhà xuất bản tổng hợp về khoa học và kỹ thuật, chất lượng sách bảo đảm, nhiều cuốn rất có giá trị.
d. Quản lý vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật thời kỳ này cũng được tăng cường hơn:
Uỷ ban đã tích cực tham gia công tác kiểm kê vật tư, thiết bị của Nhà nước. Trên cơ sở kết quả tổng kiểm kê, đã xây dựng đề án cải tiến tổ chức và hoạt động của các cơ quan cung ứng, dịch vụ về VTTB khoa học và kỹ thuật, đã tiến hành điều hoà phối hợp việc sử dụng một số thiết bị quý hiếm, công suất cao. Hàng năm đến kỳ làm kế hoạch nhập vật tư khoa học và kỹ thuật, theo yêu cầu của Bộ vật tư, Uỷ ban cử cán bộ tham gia ý kiến vào các đơn đặt hàng do Bộ Vật tư tổng hợp. Cũng có trường hợp, Uỷ ban đứng ra tổng hợp một số đơn hàng nhập bằng tiền viện trợ. Trong tờ trình số 324-KHKT ngày 14 tháng 3 năm 1984, Uỷ ban đề nghị HĐBT quy định rõ thêm : Uỷ ban chịu trách nhiệm lập kế hoạch nhập thiết bị, vật tư KHKT theo mức kinh phí được Nhà nước duyệt. Bộ Ngoại thương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban để thực hiện kế hoạch nhập. Ngoại tệ không dùng hết được giữ lại dùng cho năm sau. Để thực hiện chỉ thị 412-TTg về việc tổ chức sản xuất vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban đã cùng Bộ Vật tư và Bộ Văn hoá tổ chức triển lãm các vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật sản xuất trong nước tại thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức các Hội nghị chuyên đề về sản xuất từng loại vật tư, thiết bị, trên cơ sở đó kiến nghị một số biện pháp thúc đẩy việc sản xuất vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật trong kế hoạch 5 năm 1981-1985 trong đó có kiến nghị Uỷ ban kế hoạch Nhà nước giao nhiệm vụ, cân đối các điều kiện cần thiết cho sản xuất và phân phối theo yêu cầu của UBKHKTNN. Theo quyết định của HĐBT, nhiệm vụ cung ứng dịch vụ vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật và Công ty vật tư khoa học và kỹ thuật được chuyển tư Bộ Vật tư sang Uỷ ban từ năm 1983, Uỷ ban cố gắng cải tiến công tác này theo hướng tập trung phục vụ một số vấn đề khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước.
Sau giải phóng miền Nam, HĐCP còn giao cho Uỷ ban tiếp quản công ty máy tính điện tử IBM và quản lý thống nhất hệ thống MTĐT trong cả nước. Thực hiện chức trách này, Uỷ ban đã cùng các ngành nghiên cứu nhu cầu tính toán bằng MTĐT đến năm 1985. Uỷ ban đã ban hành thông tư hướng dẫn sử dụng hợp lý, đầy đủ công suất các MTĐT đã có, bảo đảm kỹ thuật cho các Trung tâm MTĐT, quy định tạm thời giá cả cho các dịch vụ tính toán bằng MTĐT. Công ty MTĐT IBM đã cố gắng khắc phục khó khăn về phụ tùng thay thế và vật tư kỹ thuật để duy trì hoạt động của các MTĐT đã giao cho Công ty quản lý.
e. Thi hành Nghị định 192/CP, hàng năm Uỷ ban đã cùng Bộ Tài chính dự trù ngân sách cho khoa học và kỹ thuật, phân bổ kinh phí cho các ngành và ban hành một số quy định về quản lý tài chính cho khoa học và kỹ thuật như thông tư liên bộ số 33-TC/UBKHKTNN ngày 21 tháng 10 năm 1975 hướng dẫn việc quản lý chi tiêu về nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, thông tư liên bộ 31-TC/UBKHKTNN ngày 17/12/1980 hướng dẫn việc quản lý chi tiêu cho các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong điểm của Nhà nước, Thông tư liên bộ 03-TC/KHKT ngày 28 tháng 1 năm 1984 hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các quĩ trong cơ quan nghiên cứu, triển khai. Trong tờ trình số 324-KHKT ngày 14 tháng 3 năm 1984 Uỷ ban đề nghị HĐBT quy định rõ thêm : Uỷ ban KHKTNN chịu trách nhiệm phân bổ, điều chỉnh kinh phí hoạt động KHKT cho các Bộ, Tổng cục; Bộ Tài chính bảo đảm việc cấp phát theo sự phân bố, điều chỉnh của Uỷ ban KHKTNN; Các Bộ, Tổng cục bảo đảm sử dụng đúng sự phân bố, điều chỉnh của UBKHKTNN và đúng chế độ, thể lệ của Nhà nước.
Ngân sách dành cho khoa học và kỹ thuật hàng năm có tăng nhưng thời giá cũng tăng, nên chỉ đủ để trả lương, để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trọng điểm của Nhà nước và khoảng 1/3 số nhiệm vụ nghiên cứu của các ngành, các cơ sở. Trong những năm tới, cần tăng thêm mức đầu tư cho khoa học và kỹ thuật để từng bước thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị.
g. Quản lý công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài thời kỳ này, có một bước phát triển mới: Uỷ ban được uỷ quyền thương mại về hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài (Theo công văn số 1220/VT ngày 3/4/1982) do đó đã thành lập Công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật (TECHNIMEX), và theo công văn số 5287/VT ngày 15 tháng 11 năm 1983, HĐBT đã quyết định chuyển giao công tác xuất nhập chuyên gia văn hoá, giáo dục từ Tổng công ty Technoimport (Bộ Ngoại thương) sang công ty Technimex (UBKHKTNN). HĐBT đã cho phép Uỷ ban thành lập bộ phận khoa học và kỹ thuật trực thuộc đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài. Thời kỳ này, Uỷ ban đã giúp Nhà nước mở rộng quan hệ và hợp tác về khoa học và kỹ thuật với 1 số nước tư bản chủ nghĩa và các tổ chức quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Cục TCĐLCL Nhà nước đã là thành viên của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO), của ban thường trực về tiêu chuẩn hoá của SEV, đã tham gia hiệp ước chuẩn đo lường của SEV, đang tiếp nhận viện trợ của Thuỵ Điển và PNUD. Uỷ ban đã đề nghị Chính phủ thừa nhận công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá. Cục sáng chế đã tham gia tổ chức thế giới về quyền sở hữu trí tuệ (OMPI). Viện thông tin khoa học và kỹ thuật TW đã là thành viên của Trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật quốc tế, là Trung tâm INFOTERRA Việt Nam của hệ thống thông tin khoa học và kỹ thuật toàn cầu của Liên hiệp quốc (UNISIST). Thư viện khoa học và kỹ thuật TW duy trì quan hệ vốn có về trao đổi tài liệu khoa học và kỹ thuật với nhiều thư viện lớn của các nước khác. Nhà xuất bản đã có quan hệ hợp tác xuất bản sách tiếng Việt và từ điển Nga - Việt với 2 nhà xuất bản Liên Xô.
Uỷ ban đã tiến hành kế hoạch hoá công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài, hướng vào phục vụ cho các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước và một phần nào cho hoạt động sản xuất và khoa học và kỹ thuật của các địa phương. Đã có những đề tài hợp tác nghiên cứu dài hạn với các nước XHCN như cơ giới hoá trồng lúa, trồng khoai. Trong 5 năm 1981 - 1985, các nước XHCN đã viện trợ không hoàn lại cho Việt nam 20 triệu rúp để tiến hành các hoạt động hợp tác KHKT và 8,2 triệu rúp để trang bị thêm cho 12 cơ sở KHKT. PNUD đã dành cho khoảng 14 triệu USD để phát triển các cơ quan KHKT khác. Việt kiều cũng đã giúp đỡ một phần. Hợp tác quốc tế đã góp phần đáng kể vào việc tăng cường tiềm lực KHKT của chúng ta, đã giúp chúng ta giải quyết được khá nhiều vấn đề KHKT quan trọng, làm chủ được một số công nghệ mới, kỹ thuật mới. Một số giống cây trồng, vật nuôi đã thích nghi và phát huy tác dụng trong sản xuất. Uỷ ban đã trình HĐBT dự thảo "Điều lệ quản lý công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài "nhằm đưa công tác này vào nền nếp, làm cho hoạt động này có hiệu quả hơn và khắc phục những khuyết, nhược điểm còn tồn tại.
7. Để thực hiện tốt chức năng quản lý thống nhất về khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, ngoài việc giúp Đảng và Chính phủ xây dựng các chính sách, chế độ, kế hoạch khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban đã chăm lo hơn việc xây dựng hệ thống tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và kỹ thuật từ Trung ương đến cơ sở. Trong thời kỳ này, Uỷ ban đã có những tờ trình đề nghị Chính phủ quy định rõ thêm một số mặt công tác của Uỷ ban, sửa đổi, bổ sung, kiện toàn tổ chức của Uỷ ban, đã có những thông tư hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng khoa học và kỹ thuật các cấp Bộ, Tỉnh, Huyện, Liên hiệp xí nghiệp, Viện nghiên cứu triển khai, của Vụ KH và KT Bộ, Tổng cục, của Ban, Uỷ ban KH và KT Tỉnh , Thành phố. Thời kỳ này hầu hết các Bộ, Tổng cục đã có Vụ khoa học và kỹ thuật, tất cả các Tỉnh, Thành phố, đặc khu đã có Uỷ ban khoa học và kỹ thuật. Một số ngành như Nông nghiệp, Thuỷ Lợi, Y tế đã lập Phòng khoa học và kỹ thuật ở Sở, Ty. Hầu hết các cơ sở quy mô vừa và lớn đã có phòng quản lý khoa học (Viện, Trường Đại học, Bệnh viện) hoặc phòng kỹ thuật (xí nghiệp công nghiệp). Uỷ ban đã tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên trong hệ thống về quản lý các công tác kế hoạch hoá, TCĐLCL, sáng kiến - sáng chế, thông tin khoa học và kỹ thuật.
Uỷ ban quan tâm đến công tác khoa học và kỹ thuật địa phương ngay từ khi mới thành lập, nhưng sau khi Đại Hội Đảng lần thứ 4 đã khẳng định đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn mới có một nội dung quan trọng là vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, Uỷ ban mới thực sự quyết tâm tăng cường quản lý công tác khoa học và kỹ thuật địa phương, tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ việc xây dựng tổ chức và hoạt động của các Ban, Uỷ ban khoa học và kỹ thuật địa phương. Đánh dấu bước chuyển biến quan trọng này là Uỷ ban đã tổ chức Hội nghị khoa học và kỹ thuật địa phương toàn quốc lần thứ nhất vào 4 ngày 27-30/9/1977 với nội dung được chuẩn bị chu đáo gồm báo cáo về tình hình công tác khoa học và kỹ thuật của các địa phương trong thời gian qua và phương hướng công tác khoa học và kỹ thuật của các địa phương trong thời gian 1976-1980, báo cáo về đề án tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật ở địa phương và báo cáo có tính chất hướng dẫn về công tác điều tra tổng hợp ở địa phương, với thành phần gồm đại diện của Uỷ ban nhân dân, Ban tổ chức Chính quyền, Uỷ ban kế hoạch, Sở, Ty công nghiệp, nông nghiệp và Ban khoa học và kỹ thuật (nếu có) của các Tỉnh, Thành phố trong cả nước và đại diện của Phủ Thủ tướng, của một số Bộ chủ chốt. Hội nghị này đã tiếp sức cho Uỷ ban trong cuộc đấu tranh với khuynh hướng cho rằng công tác khoa học và kỹ thuật của các địa phương đã được UBKHKTNN thống nhất quản lý, và các Bộ, Tổng cục chỉ đạo theo ngành dọc rồi, không cần có Ban khoa học và kỹ thuật làm nhiệm vụ quản lý tổng hợp, thống nhất ở địa phương nữa, cũng như với khuynh hướng cho rằng Ban khoa học và kỹ thuật không phải là tổ chức chân rết của Uỷ ban ở địa phương, cấp uỷ và chính quyền địa phương nào thấy cần thì lập không thì thôi, Uỷ ban không cần can thiệp tích cực.
Thời kỳ này, các cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật đã tách khỏi Uỷ ban, Uỷ ban có điều kiện chăm lo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, nền nếp công tác của Uỷ ban hơn.
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến cuối thời kỳ này, cơ cấu tổ chức đã cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban. Hầu như mỗi nhiệm vụ cụ thể đã có 1 tổ chức thích hợp đảm nhiệm. Việc thành lập các Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật và các Hội đồng khoa học và kỹ thuật là hợp lý, chức năng quản lý hay tư vấn của từng tổ chức được phân biệt rõ rệt hơn so với các Ban khoa học trước đây. Việc thành lập Cục sáng chế, Vụ vật tư khoa học và kỹ thuật, Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật địa phương và Ban nghiên cứu tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật tạo điều kiện cho Uỷ ban thực hiện tốt hơn chức trách quản lý thống nhất về các mặt công tác này cũng như nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật. Việc sáp nhập 3 cục ĐL,TC,KTCLSP và Viện định chuẩn thành Cục TCĐLCL Nhà nước rồi thành Tổng cục TCĐLCL tạo điều kiện thuận lợi về tổ chức cho 3 mặt công tác này phối hợp mật thiết với nhau để cùng phát triển.
Đội ngũ cán bộ nhân viên của Uỷ ban phát triển nhanh. Uỷ ban đã xây dựng quy hoạch cán bộ cục, vụ, viện, phòng. Dựa vào quy hoạch này, đã bồi dưỡng, đề bạt cán bộ phụ trách cục, vụ, viện mỗi đơn vị 1-2 người (khoảng 35 người), bồi dưỡng, đề bạt đủ cán bộ phụ trách phòng (khoảng 100 người). Nhờ hợp tác quốc tế được mở rộng, Uỷ ban đã cử hơn 300 lượt người đi khảo sát, học tập ở nước ngoài về quản lý khoa học và kỹ thuật, về nghiệp vụ công tác thông tin, thư viện TCĐLCL, sáng chế, kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật... đã tổ chức cho hơn 200 cán bộ học ngoại ngữ tại chức, đã cử gần 200 cán bộ đi học các lớp lý luận cao, trung cấp về chủ nghĩa Mác-Lênin và quản lý kinh tế. Đội ngũ cán bộ phát triển nhanh nhưng vẫn chưa đủ để triển khai mọi mặt công tác quản lý khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, như còn thiếu cán bộ thành thạo nghiệp vụ, có kinh nghiệm quản lý để triển khai các công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương, nghiên cứu về tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật, chiến lược khoa học và kỹ thuật, quản lý sáng chế phát minh...
Uỷ ban đã xây dựng nhiều chế độ, thể lệ về quản lý khoa học và kỹ thuật, được Chính phủ ban hành hoặc tự mình ban hành, có tác dụng đưa công tác quản lý khoa học và kỹ thuật của Uỷ ban và của các ngành, các cấp vào nền nếp mở rộng quyền chủ động của các cơ quan nghiên cứu triển khai, đưa thêm đòn bẩy kinh tế vào cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật. Mỗi khi cần tổ chức nghiên cứu, đề nghị chủ trương, chính sách, chế độ về khoa học và kỹ thuật với Đảng và Chính phủ, Uỷ ban đều thực hiện nền nếp tập hợp đầy đủ ý kiến của Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương, các cơ sở có liên quan. Uỷ ban đã thực hiện từ năm 1979 nền nếp tổ chức Hội nghị hàng năm về khoa học và kỹ thuật địa phương nhằm tổng kết công tác năm qua và đề ra phương hướng công tác năm mới, và từ năm 1982 đã thực hiện việc quyết định bổ nhiệm các trưởng, phó ban khoa học và kỹ thuật trên cơ sở thoả thuận với cấp uỷ và chính quyền địa phương. Nền nếp tổng kết công tác khoa học và kỹ thuật hàng năm với các ngành được khôi phục lại chậm hơn, từ năm 1983. Trong nội bộ Uỷ ban, đã xây dựng và thực hiện một số quy trình công tác có nhiều đơn vị tham gia như quy trình công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật quy trình công tác quản lý KHKT địa phương... nhằm cải tiến các công tác này trên cơ sở phân công hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị có liên quan, và quy chế làm việc của lãnh đạo Uỷ ban với các đơn vị trực thuộc nhằm chỉ đạo thực hiện tốt hơn những công tác đã được phân công phụ trách.
8. Nhìn chung, trong bối cảnh đất nước mới thống nhất, lại phải đối phó với 2 cuộc chiến tranh biên giới, nền kinh tế còn mất cân đối, chưa ổn định, trình độ kỹ thuật còn thấp kém, đời sống còn nhiều khó khăn, chiến lược phát triển kinh tế chưa có, cơ chế quản lý kinh tế còn mang nặng tính chất hành chính bao cấp, hoạt động khoa học và kỹ thuật thời kỳ này đã được đẩy mạnh thêm một bước, đã có những chuyển biến tốt và những đóng góp đáng kể: Mọi hoạt động khoa học và kỹ thuật, từ nghiên cứu triển khai đến áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quản lý kỹ thuật đều cố gắng tập trung phục vụ những mục tiêu kinh tế quan trọng, cấp bách, trong khuôn khổ các chương trình KHKT trọng điểm của Nhà nước. Nhiều kết quả đã phục vụ có hiệu quả các yêu cầu phát triển sản xuất, bảo đảm đời sống trước mắt và chuẩn bị phục vụ các yêu cầu lâu dài sau này. Tiềm lực KHKT từ đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, hệ thống các cơ quan nghiên cứu triển khai, quản lý kỹ thuật, thông tin - tư liệu khoa học kỹ thuật đến Liên hiệp các Hội KHKT có phát triển và phát huy tác dụng tốt. Hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài được mở rộng và tranh thủ được viện trợ của nhiều nước và tổ chức quốc tế. Nguyên nhân của những tiến bộ kể trên:
+ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 4 đã làm cho các cấp lãnh đạo coi trọng công tác khoa học và kỹ thuật hơn. Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 51- HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng đã phát huy tác dụng chỉ đạo và thúc đẩy mọi mặt hoạt động khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương.
+ Hệ thống các cơ quan tư vấn và quản lý khoa học và kỹ thuật được hình thành và củng cố, hoạt động đúng chức năng và ngày càng có nền nếp, có hiệu quả, trong đó UBKHKTNN đã thực hiện tương đối tốt vai trò tham mưu và thống nhất quản lý về khoa học và kỹ thuật của mình.
+ Phương thức quản lý khoa học và kỹ thuật có chuyển biến tốt theo hướng vừa tăng cường các công cụ pháp chế và kế hoạch vừa bước đầu sử dụng đòn bẩy kinh tế trong cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật nhằm cố gắng thoát dần khỏi cơ chế hành chính bao cấp.
Trong tình hình kinh tế và xã hội còn rất nhiều khó khăn, hoạt động KHKT tuy có nhiều tiến bộ nhưng cũng còn nhiều mặt hạn chế, đòi hỏi UBKHKTNN cùng các ngành, các cấp mau chóng kiện toàn tổ chức, cải tiến công tác của các cơ quan tham mưu và quản lý khoa học - kỹ thuật, từ Trung ương đến cơ sở, để khắc phục những mặt hạn chế đó và tạo nên một bước chuyển biến mới mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Thời kỳ 1976-1985
Thời kỳ Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước thực hiện chức năng quản lý KH-KT (khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật) trong hoàn cảnh cả nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa phải đói phó với 2 cuộc chiến tranh biên giới, tình hình kinh tế và đời sống sau chiến tranh rất khó khăn.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử mới "giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" (Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam).
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi như lực lượng lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú, kinh tế hai miền Bắc Nam bổ sung hỗ trợ cho nhau tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học và kỹ thuật của cả nước tăng lên gấp bội, mở ra những triển vọng to lớn, song cũng có nhiều khó khăn như cơ sở vật chất - kỹ thuật còn yếu kém, cơ cấu kinh tế chưa cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chưa bảo đảm được nhu cầu đời sống và tích luỹ, bắt nguồn từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, lại bị chiến tranh lâu năm và chủ nghĩa thực dân mới kìm hãm, phá hoại nặng nề. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học và kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học và kỹ thuật là then chốt, là một quá trình phấn đấu xây dựng nước Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế công nông nghiệp hiện đại, nền văn hoá và khoa học-kỹ thuật tiên tiến, nền quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc.
Trước yêu cầu to lớn và cấp báchvề phát triển khoa học và kỹ thuật trong giai đoạn mới, Hội đồng Chính phủ đã quyết định tách khối nghiên cứu ra khỏi Uỷ ban để thành lập Viện Khoa học Việt Nam (Nghị định 118-CP ngày 20/5/1975) nhằm tạo điều kiện tăng cường đồng thời cả hai lĩnh vực nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và quản lý khoa học - kỹ thuật, và đã ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước theo Nghị định 192/CP ngày 13 tháng 10 năm 1975:
A. chức năng - nhiệm vụ của UBKHKTNN :
Theo điều lệ tổ chức và hoạt động mới này, "UBKHKTNN là cơ quan trung ương của Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý Nhà nước về lĩnh vực khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, thực hiện chính sách phát triển khoa học và kỹ thuật của Đảng và Chính phủ nhằm phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng".
UBKHKTNN thời kỳ này có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu trình TW Đảng và Hội đồng Chính phủ quyết định đường lối xây dựng và phát triển khoa học và kỹ thuật, các chính sách lớn, các phương hướng, chủ trương và biện pháp lớn về khoa học và kỹ thuật của Nhà nước.
2. Nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao, tự mình ban hành các chế độ, thể lệ, quy định về công tác quản lý khoa học và kỹ thuật nhằm xây dựng nền nếp quản lý khoa học và kỹ thuật trong cả nước.
3. Thống nhất quản lý nhà nước các mặt công tác sau đây theo đúng chế độ, thể lệ của Hội đồng Chính phủ.
a. Chịu trách nhiệm quản lý kế hoạch Nhà nước về nghiên cứu khoa học và kỹ thuật về điều tra tài nguyên và điều kiện thiên nhiên, về xây dựng, cải tiến và áp dụng các tiêu chuẩn, quy phạm nhà nước, về bảo đảm và nâng cao chất lượng các sản phẩm quan trọng của nền kinh tế quốc dân, về hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài.
b. Quản lý công tác đo lường, tiêu chuẩn hoá và chất lượng sản phẩm trong phạm vi cả nước. Cùng với các ngành, các cấp xây dựng hệ thống tổ chức quản lý đo lường, tiêu chuẩn, kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá của Nhà nước. Trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao tự mình ban hành những chế độ thể lệ về quản lý các công tác nói trên trong phạm vi cả nước. Giữ các chuẩn đo lường cấp nhà nước và kiểm định các thiết bị, dụng cụ đo lường chuẩn, tổ chức xây dựng tiêu chuẩn cấp Nhà nước.
c. Quản lý công tác sáng chế, phát minh (SCPM) trong nước và quản lý việc trao đổi SCPM với nước ngoài, đề nghị Hội đồng Chính phủ cấp bằng và khen thưởng đối với những SCPM thuộc phạm vi khen thưởng của Hội đồng Chính phủ, trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao, tự mình ban hành các chế độ, thể lệ về quản lý công tác SCPM trong phạm vi cả nước, cùng với các ngành, các cấp tổ chức thực hiện các chế độ, thể lệ ấy.
d. Quản lý công tác thông tin và tư liệu khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, cùng với các ngành, các cấp xây dựng tổ chức thông tin và tư liệu khoa học và kỹ thuật. Thực hiện chức năng trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật của Nhà nước.
e. Nghiên cứu và kiến nghị với Hội đồng Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan nghiên cứu và thí nghiệm khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước.
g. Tổng hợp và cân đối trong phạm vi cả nước các nhu cầu về tài chính, vật tư, thiết bị (thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ), cán bộ khoa học và kỹ thuật, xây dựng cơ bản để phục vụ công tác nghiên cứu, thí nghiệm và điều tra tài nguyên và điều kiện thiên nhiên để làm căn cứ cho Uỷ ban kế hoạch xây dựng kế hoạch kinh tế quốc dân. Trong trường hợp cần thiết được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền UBKHKTNN điều hoà vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật được ghi trong danh mục do Nhà nước thống nhất quản lý và phân phối (danh mục này do UBKHKTNN cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Vật tư lập và trình Hội đồng Chính phủ phê chuẩn).
4. Phối hợp với các cơ quan hữu quan của Hội đồng Chính phủ trên các mặt công tác:
a. Cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước nghiên cứu và hướng dẫn các ngành, các địa phương thực hiện chế độ, phương pháp xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật. Theo tinh thần đó, UBKHKTNN, khi thấy cần, tham gia các hội nghị bảo vệ kế hoạch ngành và kế hoạch địa phương do Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chủ trì, và phát biểu ý kiến về phần quan hệ giữa kế hoạch khoa học và kỹ thuật với kế hoạch phát triển kinh tế.
b. UBKHKTNN kiến nghị với Hội đồng Chính phủ việc đưa ra các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong nước hoặc ngoài nước vào sản xuất làm căn cứ cho Uỷ ban kế hoạch Nhà nước tổng hợp kế hoạch tiến bộ kỹ thuật và cân đối chung trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân (KTQD).
c. Phối hợp với Uỷ ban quan hệ kinh tế với nước ngoài của Hội đồng Chính phủ quản lý công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài của Nhà nước. Trong phạm vi được Hội đồng Chính phủ uỷ quyền, UBKHKTNN ký kết với các cơ quan khoa học và kỹ thuật nước ngoài các văn kiện về hợp tác và trao đổi khoa học và kỹ thuật.
d. Trên cơ sở tổng hợp các kế hoạch nêu ở điểm 3 a, UBKHKTNN phối hợp với Bộ Tài chính trong việc lập kế hoạch bộ phận ngân sách Nhà nước (cả phần ngoại tệ) chi cho công tác khoa học và kỹ thuật có dự kiến phân bổ cho các ngành, các cấp, cấp và quản lý việc sử dụng kinh phí cho công tác khoa học và kỹ thuật, xây dựng các chính sách, chế độ tài chính áp dụng trong công tác khoa học và kỹ thuật.
e. Cùng với Bộ Vật tư và các cơ quan hữu quan khác nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ những chính sách, chế độ về quản lý vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật trên các mặt sản xuất trong nước, nhập khẩu, sử dụng, bảo quản, sửa chữa, v.v...
g. Cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và các cơ quan hữu quan khác của Đảng và Nhà nước xây dựng phương hướng, kế hoạch về đào tạo, phân phối và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật.
5. Hướng dẫn và chỉ đạo nghiệp vụ về các mặt công tác mà UBKHKTNN phụ trách và tham gia ý kiến về xây dựng và phát triển công tác khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương.
6. Tiến hành chức trách kiểm tra Nhà nước ở các ngành, các cấp về các mặt công tác khoa học và kỹ thuật mà UBKHKTNN phụ trách. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, UBKHKTNN nghiên cứu, trình Hội đồng Chính phủ những biện pháp lớn nhằm chấn chỉnh và phát triển mạnh mẽ, đúng hướng và có hiệu quả công tác khoa học và kỹ thuật.
7. UBKHKTNN có quyền đôn đốc các ngành, các cấp gửi dự án kế hoạch khoa học và kỹ thuật theo đúng nội dung và thời gian quy định, báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch khoa học và kỹ thuật theo chế độ quy định, các ngành, các cấp phải cung cấp tình hình và tài liệu cần thiết mà UBKHKTNN yêu cầu theo nhu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về các linh vực khoa học và kỹ thuật.
8. Làm thường trực cho các Hội đồng tư vấn về khoa học và kỹ thuật của Hội đồng Chính phủ và bảo đảm cho sự hoạt động của các Hội đồng đó theo phân công của Hội đồng Chính phủ.
9. Nghiên cứu cải tiến tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật theo phương hướng cải tiến tổ chức nền KTQD của Đảng và Nhà nước, tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý khoa học và kỹ thuật trong cả nước.
10. Quản lý tổ chức, cán bộ, biên chế, kinh phí và tài sản của cơ quan theo chính sách, chế độ chung của Nhà nước.
B. Cơ cấu tổ chức của UBKHKTNN :
1. UBKHKTNN được tổ chức và làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp với bàn bạc tập thể. Chủ nhiệm UBKHKTNN chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Hội đồng Chính phủ về toàn bộ công tác của Uỷ ban.
Chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban thời kỳ này do ông Trần Đại Nghĩa (1976-3/1977), ông Trần Quỳnh (3/1977-5/1980), ông Lê Khắc (5/1980-1982), ông Đặng Hữu (1982 - 12/1996) lần lượt đảm nhiệm.
Các Phó chủ nhiệm Uỷ ban:ông Lê Khắc (1976-2/1980), ông Đoàn Phương (từ 2/1978 - 3/ 1993), ông Bùi Huy Đáp (1978-1985), ông Hoàng Đình Phu (6/1980 - 4/1988), ông Nguyễn Ngọc Trân (6/1980-10/1992). ông Đường Hồng Dật (12/82 - 8/87), ông Lê Quý An (12/1982 - 1/1996), Các ông Đoàn Phương, Hoàng Đình Phu kế tiếp nhau làm phó chủ nhiệm thường trực. Các uỷ viên Uỷ ban: ông Trần Trí và ông Lê Tâm.
2. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật:
- Vụ Tổng hợp và kế hoạch khoa học và kỹ thuật.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật công nghiệp.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật Nông - Sinh - Y.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật xây dựng - giao thông - thuỷ lợi.
- Vụ Quản lý khoa học cơ bản.
- Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật điều tra và bảo vệ tài nguyên và điều kiện thiên nhiên.
- Vụ Hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài.
- Cục Tiêu chuẩn.
- Cục Đo lường.
- Cục kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Viện Định chuẩn, tiếp quản sau giải phóng miền Nam.
Theo Quyết định số 325/CP ngày 13 tháng 4 năm 1979, 3 Cục Tiêu chuẩn, đo lường, kiểm tra chất lượng sản phẩm và Viện địch chuẩn sáp nhập thành Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Nhà nước. Cục có 3 Trung tâm quản lý theo khu vực : Trung tâm TCĐLCL khu vực I ở Hà Nội, Trung tâm TCĐLCL khu vực II ở Đà Nẵng, Trung tâm TCĐLCL khu vực IIII ở Thành phố Hồ Chí Minh và 2 Trung tâm quản lý theo lĩnh vực : Trung tâm đo lường, Trung tâm tiêu chuẩn - chất lượng.
Theo Nghị định 22/HĐBT ngày 8 tháng 2 năm 1984, Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Nhà nước được chuyển thành Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng.
- Phòng quản lý sáng chế - phát minh. Cục sáng chế được thành lập từ tháng 7/ 1982 theo Nghị định 125/ HĐBT.
- Cục máy tính điện tử.
- Vụ Vật tư - Thiết bị khoa học và kỹ thuật, thành lập theo Quyết định 125/HĐBT.
- Bộ phận quản lý khoa học và kỹ thuật địa phương. Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật địa phương thành lập theo quyết định 125/HĐBT.
- Tổ quản lý cán bộ khoa học và kỹ thuật tách khỏi Vụ tổng hợp - kế hoạch từ tháng 6/1978.
3. Các cơ quan nghiên cứu khoa học:
- Tổ nghiên cứu chính sách khoa học và kỹ thuật, tách khỏi Vụ tổng hợp - kế hoạch từ 9/1978, phát triển thành Ban Nghiên cứu tổ chức và quản lý khoa học và kỹ thuật theo Quyết định 125/HĐBT.
- Văn phòng tiểu ban nghiên cứu chiến lược khoa học và kỹ thuật.
- Viện Nghiên cứu hạt nhân, thành lập theo quyết định 64/CP ngày 25/4/1976. Sau một thời gian, Viện này được tách ra để thành lập Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia.
4. Các cơ quan kinh doanh, dịch vụ:
- Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật có chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty máy tính điện tử IBM, tiếp quản sau giải phóng miền Nam.
- Công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật (TECHNIMEX) thành lập năm 1982.
- Công ty vật tư khoa học và kỹ thuật thành lập năm 1983.
5. Các cơ quan quản lý và hành chính sự nghiệp khác:
- Viện Thông tin khoa học và kỹ thuật trung ương.
- Thư viện khoa học kỹ thuật Trung ương.
- Tạp chí hoạt động khoa học và kỹ thuật.
- Văn phòng Uỷ ban.
- Vụ Tổ chức - cán bộ.
- Ban thi đua - khen thưởng.
- Ban Thanh tra.
- Tổ xét duyệt trữ lượng khoáng sản.
- Phòng giáo dục sau đổi tên thành Phòng Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Bộ phận thường trực của Uỷ ban tại TP. Hồ Chí Minh, thành lập năm 1982.
6. Các Hội đồng khoa học và kỹ thuật chuyên ngành, liên ngành, để làm tư vấn về khoa học và kỹ thuật cho Uỷ ban.
Thừa hưởng kinh nghiệm hoạt động từ các thời kỳ trước, lại được tăng cường về chức trách và tổ chức, hoạt động của Uỷ ban thời kỳ này tiến bộ rõ rệt và có hiệu quả hơn. Trong năm 1975, Uỷ ban đã tranh thủ cử nhiều cán bộ chủ chốt vào khảo sát tình hình khoa học và kỹ thuật miền Nam để chuẩn bị triển khai các hoạt động tham mưu và quản lý của mình trong phạm vi cả nước.
1. Công tác tham mưu thời kỳ này có mấy việc nổi bật: Uỷ ban đã đóng góp nhiều vào việc dự thảo Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành ngày 20 / 4 / 1981 về chính sách khoa học và kỹ thuật thống nhất cho cả nước và Nghị quyết 51-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng được ban hành ngày 17 tháng 5 năm 1983 về công tác khoa học và kỹ thuật năm 1983 và những năm tiếp theo. Hai Nghị quyết quan trọng của Đảng và Chính phủ trên đây đã phát huy tác dụng chỉ đạo, thúc đẩy hoạt động khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương trong cả nước phục vụ có hiệu quả hơn các yêu cầu phát triển kinh tế trước mắt và lâu dài. Uỷ ban đã phối hợp với Phủ Thủ tướng tổ chức hai Hội nghị khoa học và kỹ thuật toàn quốc, gồm cán bộ lãnh đạo và cán bộ khoa học và kỹ thuật chủ chốt của các ngành và một số địa phương, Hội nghị lần thứ nhất họp vào tháng 10/1976 nhằm thảo luận xác định cụ thể thêm một số vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật ở nước ta theo yêu cầu của giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ hai họp vào đầu năm 1978 nhằm thảo luận xác định những phương hướng công tác khoa học và kỹ thuật và những chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm phục vụ nhiệm vụ phát triển nông nghiệp toàn diện ở nước ta. Uỷ ban tiến hành tổ chức việc nghiên cứu dự báo và chiến lược khoa học và kỹ thuật làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế, phát triển khoa học và kỹ thuật. Uỷ ban cũng đã làm tham mưu về một số vấn đề cụ thể quan trọng như vấn đề sử dụng đất đồi núi, vấn đề dầu khí, vấn đề công trình Sông Đà, v.v. .. Tuy nhiên Uỷ ban còn thiếu chủ động nghiên cứu sẵn những vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược, dự kiến cấp trên có thể hỏi đến, để khỏi bị động nghiên cứu một cách vội vàng khi cấp trên yêu cầu. Uỷ ban chưa tham gia hoặc chưa được tham gia nghiên cứu góp ý kiến với Nhà nước một cách thường xuyên về vấn đề nhập kỹ thuật cho thích hợp và có hiệu quả. Trong tờ trình số 324 KHKT ngày 14 tháng 3 năm 1984 Uỷ ban có đề nghị HĐBT giao cho Uỷ ban nhiệm vụ giúp HĐBT xem xét hiệu quả của việc nhập kỹ thuật và các căn cứ khoa học kỹ thuật của các chủ trương đầu tư kinh tế quan trọng, tổ chức giám định công nghệ đối với những công trình quan trọng dự định xây dựng nhằm góp phần bảo đảm cho việc đầu tư của Nhà nước có hiệu quả hơn.
2. Công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật thời kỳ này có chuyển biến tốt: Nội dung kế hoạch khoa học và kỹ thuật toàn diện hơn như đã nêu trong nhiệm vụ thống nhất quản lý Nhà nước của Uỷ ban. Từ kế hoạch hoá theo vấn đề, đề tài trong 2 thời kỳ trước, Uỷ ban bắt đầu kế hoạch hoá theo chương trình có mục tiêu từ năm 1978, để tập trung lực lượng khoa học và kỹ thuật vào thực hiện những mục tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu; Thời kỳ này với sự giúp đỡ của các cố vấn Liên Xô, Uỷ ban đã tổ chức xây dựng và quản lý việc thực hiện một hệ thống 76 chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước góp phần hạn chế tình trạng phân tán, nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu, triển khai và áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật.
Kinh phí hoạt động khoa học kỹ thuật có hạn (năm 1985 mới chiếm 0,65 % ngân sách chi của Nhà nước), giá cả biến động ngày một cao, Uỷ ban đã cố gắng tập trung đầu tư cho các chương trình. Kinh nghiệm quản lý chương trình chưa có gì, nhưng với sự nỗ lực của các Ban chủ nhiệm chương trình và sự hỗ trợ tích cực của lãnh đạo các ngành, các địa phương nên hầu hết các chương trình đã được triển khai thực hiện trong đó khoảng 1000 đề tài đã kết thúc, hơn 300 thành tựu quan trọng được kiến nghị áp dụng vào sản xuất.
Về khoa học xã hội, đã góp phần cụ thể hoá đường lối của Đảng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, và đề xuất những vấn đề về chiến lược kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ chế quản lý, đã biên soạn nhiều công trình có giá trị về lịch sử, văn học, về xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, lối sống mới, đã góp phần đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phản động...
Về khoa học tự nhiên, đã hoàn thành bản đồ địa chất miền Nam tỷ lệ 1/500.000, bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 cho vùng trung du Bắc Bộ, đã hoàn thành điều tra tổng hợp một số vùng lãnh thổ, lãnh hải và tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất đến năm 2000, sơ đồ môi sinh và bảo vệ môi trường vùng Đông Nam bộ đến năm 2000. Đã tiến hành nhiều công trình lý thuyết có giá trị về toán học, cơ học, vật lý, hoá học được đánh giá tốt trong và ngoài nước. Trên cơ sở đánh giá tài nguyên sinh vật, đã đề xuất các biện pháp khai thác hợp lý, đã áp dụng công nghệ sinh học trong nhân giống, điều chế chất kích thích sinh trưởng.
Về khoa học nông nghiệp, đã góp phần vào việc phát triển nông nghiệp toàn diện, đảm bảo lương thực - thực phẩm và một phần nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. Thành tựu nổi bật nhất là năm 1985, đã đưa năng suất lúa lên 28,5 tạ/ha/vụ và tổng sản lượng lương thực lên tới 18,2 tấn/năm.
Về khoa học y dược, đã giải quyết có hiệu quả các bệnh sốt rét và sốt xuất huyết; một số kỹ thuật hiện đại như vi phẫu thuật, ghép giác mạc được áp dụng thành công, một số kỹ thuật cổ truyền như châm cứu được áp dụng rộng rãi, đã bào chế được nhiều loại thuốc từ nguyên liệu trong nước.
Về khoa học kỹ thuật, đã góp phần giải quyết những khó khăn về nguyên, nhiên, vật liệu và phụ tùng thay thế lâu nay phải nhập khẩu. Đã thiết kế chế tạo được một số dây chuyền sản xuất công nghiệp, một số phương tiện vận tải thuỷ quy mô nhỏ và vừa. Đã áp dụng có kết quả nhiều giải pháp kỹ thuật tiên tiến trong thi công xây dựng các công trình lớn như Nhiệt điện Phả Lại, Thuỷ điện Hoà Bình, Cầu Thăng Long, Cầu Chương Dương. Đã bước đầu xây dựng công nghiệp điện tử ở nước ta.
Uỷ ban đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 263-CP ngày 27/6/1981 về chế độ kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật, Nghị định 122-HĐBT ngày 20 tháng 7 năm 1982 về chế độ quản lý các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước, quyết định 175-CP ngày 29 tháng 4 năm 1981 về ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, và tự mình ban hành quyết định số 271/QĐ về "Quy định việc dăng ký đề tài nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và nộp báo cáo kết quả nghiên cứu", Quyết định số 262/QĐ về "Quy định thể thức đánh giá và nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật", nhằm tăng cường tình pháp lệnh của kế hoạch khoa học và kỹ thuật, đưa công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật vào nền nếp, nhằm mở rộng quyền chủ động của các cơ quan nghiên cứu, triển khai và đưa đòn bẩy kinh tế vào cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật. Năm 1981, Uỷ ban đã cùng Uỷ ban kế hoạch Nhà nước thống nhất quy định chế độ phối hợp giữa 2 Uỷ ban trong việc xây dựng các chương trình tổng hợp có mục tiêu kinh tế, các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm, kế hoạch áp dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của sản xuất và sản phẩm, các đề án kinh tế - kỹ thuật, kế hoạch công tác tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, kế hoạch cân đối các nhu cầu về tài chính, vật tư, cán bộ, xây dựng cơ bản cho công tác khoa học và kỹ thuật, để việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế có đủ căn cứ khoa học và kỹ thuật và việc xây dựng kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật xuất phát từ nhu cầu và khả năng của nền kinh tế quốc dân. Công tác kế hoạch hoá còn phải tiếp tục, xây dựng thêm kế hoạch KHKT dài hạn để hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch KHKT và để làm cơ sở cho kế hoạch 5 năm và hàng năm.
3, Công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng thời kỳ này phát triển khá nhanh, có tác dụng tốt đối với quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật, bảo đảm chất lượng một số sản phẩm quan trọng trong điều kiện sản xuất có nhiều khó khăn, hạn chế tiêu cực trong sản xuất và lưu thông phân phối.
Uỷ ban đã đề nghị Chính phủ ban hành Điều lệ kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá (kèm theo Nghị định 62/CP ngày 12 tháng 4 năm 1976), Điều lệ về công tác tiêu chuẩn hoá (kèm theo Nghị định 141/HĐBT ngày 24/8/1982); đã cùng Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Uỷ ban Vật giá Nhà nước ban hành Thông tư liên bộ số 415 -TTLB ngày 23 tháng 11 năm 1977 về một số biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm và hàng hoá, đã cùng Uỷ ban vật giá Nhà nước và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên bộ số 776/TTLB ngày 28 tháng 6 năm 1983 quy định việc khuyến khích vật chất những sản phẩm công nghiệp mang dấu chất lượng Nhà nước. Như vậy là đến hết thời kỳ này , Uỷ ban đã xây dựng nhiều văn bản pháp quy được Chính phủ ban hành hoặc tự mình ban hành làm cơ sở pháp lý và nghiệp vụ cho các công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường , quản lý chất lượng sản phẩm. Đã cùng các ngành, các địa phương xây dựng được một hệ thống tổ chức quản lý đo lường, tiêu chuẩn, chất lượng từ Trung ương đến cơ sở, một hệ thống tiêu chuẩn bốn cấp : Nhà nước (TCVN), ngành (TCN), địa phương (TCV), cơ sở (TC). Tính đến cuối năm 1985 Uỷ ban và các ngành, các địa phương, các cơ sở đã xây dựng và ban hành 4600 TCVN, 2000 TCN, 1000 TCV và 7000 TC. Nhiều tiêu chuẩn đã được áp dụng trong sản xuất, trong ký kết hợp đồng gia công, mua bán, trong định giá. Tuy nhiên cũng cần xây dựng thêm những TC đồng bộ từ nguyên liệu cho đến thành phẩm cho dễ thực hiện hơn, cũng cần xem xét lại một số TC không còn thích hợp với điều kiện sản xuất mới. Một hệ thống chuẩn đo lường đã bảo đảm được công tác kiểm định của Tổng cục TCDLCL đối với các chuẩn và thiết bị đo lường cấp chính xác cao, cũng như công tác kiểm định của các chi cục TCDLCL, đối với các dụng cụ đo lường đang sử dụng hoặc mới sản xuất ở địa phương. Việc sản xuất các dụng cụ đo lường được mở rộng hơn nhằm khắc phục tình trạng dụng cụ đo lường vưà thiếu vừa kém chính xác. Hàng năm đã sản xuất được hàng trăm ngàn dụng cụ đo lường để dùng trong nước và xuất khẩu một phần, bao gồm quả cân chuẩn hạng 3, thước chuẩn độ dài các loại thước cặp, pan me công tơ điện, công tơ nước, ampekế, vôn kế, cồn kế, tỷ trọng xăng dầu, cân các loại, cân ô tô 15, 25, 30 tấn. Tổng cục đang triển khai chương trình cân đong lớn đối với xăng dầu, than và lương thực, và năm chương trình quản lý chất lượng hàng xuất khẩu: hải sản, cao su, săm lốp, xe đạp, rượu. Hàng năm đã tiến hành thanh tra, kiểm tra chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng của nhiều sản phẩm và hàng hoá thuộc diện Nhà nước quản lý chất lượng. Đã tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho hơn 1 vạn cán bộ làm các công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường, kiểm tra chất lượng, bồi dưỡng tay nghề và kiểm tra nâng bậc cho hàng trăm kiểm định viên, kiểm nghiệm viên của các ngành, các cấp.
Năm 1977, Hội nghị và triển lãm 15 năm hoạt động tiêu chuẩn hoá đã được tổ chức tại Hà Nội, đông đảo đại biểu các ngành, các địa phương trong cả nước đã tham dự.
Năm 1978, là thành viên của Ban thường trực TCH của SEV, Việt nam bắt đầu tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế.
Trong khuôn khổ quản lý thống nhất của Cục TCĐLCLNN, của Tổng cục TCĐLCL, ba mặt công tác này đã được tiến hành đồng bộ hơn nhưng cũng cần cố gắng kết hợp chặt chẽ hơn vơí các mặt quản lý kinh tế như kế hoạch và giá cả.
4. Thời kỳ này Uỷ ban đã tiếp tục cùng các ngành, các cấp hướng dẫn, động viên phong trào quần chúng phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, khắc phục được khá nhiều khó khăn trong sản xuất. Ngày 11 tháng 4 năm 1985 Uỷ ban đã cùng Tổng liên đoàn Lao động Việt nam và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ký kết quy chế phối hợp giữa ba tổ chức từ Trung ương đến cơ sở trong công tác này..
Đặc biệt là Uỷ ban đã tổ chức thành công hội nghị sáng kiến toàn quốc lần thứ nhất năm 1976 và Hội nghị sáng kiến toàn quốc lần thứ hai năm 1981 để tổng kết thành tích hoạt động sáng kiến đã qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ hoạt động sáng kiến sắp tới, đồng thời khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc. Hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá của quần chúng đi dần vào nề nếp và ngày càng có hiệu quả hơn.
Trước yêu cầu mở rộng đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật của nước nhà, Uỷ ban đã trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành điều lệ quản lý sáng kiến và sáng chế kèm theo nghị định số 31-CP ngày 23/1/1981, Điều lệ quản lý nhãn hiệu hàng hoá kèm theo Nghị định số 197-HĐBT ngày 14/12/1982, và bắt đầu triển khai hai công tác này. Cục sáng chế đã triển khai việc tiếp nhận đơn đăng ký và xét cấp bằng sáng chế, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tính đến cuối năm 1985, Uỷ ban đã cấp 24 Bằng sáng chế và 262 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đã bước đầu góp phần bảo vệ lợi ích của cơ sở sản xuất và người tiêu dùng. Uỷ ban cũng đã cố gắng hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương xây dựng lực lượng quản lý sáng kiến, sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá cho mạnh hơn.
5. Công tác kiểm tra, xét duyệt trữ lượng khoáng sản thời kỳ này làm được nhiều hơn và đi dần vào nền nếp. Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản dã ban hành một số quy định về nội dung và hình thức báo cáo, trình tự xét duyệt báo cáo, quy phạm phân cấp trữ lượng một số khoáng sản (như than, đá vôi, đá sét...). Khi cơ sở kết thúc công tác thực địa, chuyển sang tổng kết, làm báo cáo, thường trực Hội đồng cử cán bộ xuống cơ sở xem xét tình hình thực tế, tài liệu nguyên thuỷ và góp ý kiến ngay khi lập báo cáo để bảo đảm chất lượng báo cáo và rút ngắn thời gian kiểm tra khi báo cáo được trình duyệt. Công tác thường gặp một số khó khăn : Các cơ quan thăm dò khoáng sản đưa trình duyệt báo cáo thường chậm hơn thời hạn quy định của kế hoạch xét duyệt. Cơ quan khai thác chưa chú ý cử chuyên viên có trình độ, có kinh nghiệm tham gia kiểm tra, đánh giá báo cáo. Hội đồng chưa có điều kiện theo dõi tài liệu thực tế khai thác để đối chiếu với trữ lượng được phê chuẩn.
Hội đồng luôn huy động lực lượng KHKT của các Viện, Trường tham gia công tác kiểm tra, đánh giá các báo cáo thăm dò địa chất, tính trữ lượng khoáng sản. Hội đồng hoạt động có hiệu quả, nên năm 1978, Tổng cục Mỏ - địa chất đã giải thể Phòng Kiểm tra trữ lượng của Tổng cục để các đơn vị thăm dò có thể trình duyệt báo cáo tính toán trữ lượng khoáng sản lên thẳng Hội đồng.
6. Về quản lý việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật:
a. Uỷ ban đã tham gia đợt điều tra lao động khoa học và kỹ thuật năm 1982, trên cơ sở đó bổ sung dữ liệu về cán bộ trình độ trên đại học. Thi hành Nghị định 09-HĐBT, Uỷ ban đã có công văn hướng dẫn phương pháp xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ trình độ trên đại học trong 5 năm 1986-1990. Uỷ ban đã trình HĐBT ban hành chế độ công tác kiêm nhiệm của cán bộ khoa học và kỹ thuật. Thi hành Quyết định số 36/CP ngày 2 tháng 2 năm 1980 của HĐCP và theo sự hướng dẫn, phân công của Bộ Lao động, Uỷ ban đã tổ chức nghiên cứu xây dựng chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ chung cho các cấp chức vụ nghiên cứu khoa học và các cấp chức vụ kỹ thuật, xây dựng chức danh đây đủ và tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể cho các chức vụ viên chức thuộc hệ thống tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật (đề tài cáp Nhà nước 60A độc lập), để cơ quan, xí nghiệp có căn cứ đánh giá, phân công, đãi ngộ cán bộ khoa học và kỹ thuật cho đúng, lập kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật cho đúng và để từng cán bộ khoa học và kỹ thuật đặt mục tiêu, kế hoạch phấn đấu nâng cao trình độ của mình cho đạt yêu cầu của chức vụ được giao. Đối với trí thức Việt kiều, Uỷ ban đã giới thiệu cho những cốt cán của phong trào Việt kiều yêu nước ở một số nước nắm được Nghị quyết của Bộ Chính trị về chính sách khoa học và kỹ thuật, những chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước và những vấn đề cấp thiết của sản xuất, để có phương hướng, nội dung cụ thể mà vận động trí thức Việt kiều đóng góp xây dựng đất nước tuỳ theo khả năng của họ.
Đội ngũ cán bộ KHKT phát triển nhanh nhưng cơ cấu ngành nghề và trình độ chưa thật phù hợp với yêu cầu phát triển KHKT, cán bộ có trình độ cao còn thiếu nhiều trong cả mấy lĩnh vực sản xuất, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý; chính sách, chế độ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ KHKT làm việc còn ít, bộ phận quản lý cán bộ KHKT của Uỷ ban còn yếu.
b-Năm 1980, theo chỉ thị của Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ ban đã thành lập tổ nghiên cứu "Đề án thành lập Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam", và tham gia Ban Trù bị nghiên cứu cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam do đồng chí Bùi Thanh Khiết, trưởng ban khoa giáo TW, làm trưởng ban, và gồm đại biểu của Viện Khoa học Việt Nam, Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu khoa học giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Nông nghiệp, Bộ y tế, UBKHKTNN, Ban Tổ chức TW, Văn phòng 10 Phủ Thủ tướng. Ban này đã họp hai lần vào 1/4/1980 và 8/4/1980 để thảo luận đề án nhưng chưa đi đến nhất trí . Thời kỳ này, các cơ sở nghiên cứu, triển khai của Viện khoa học Việt Nam , Uỷ ban khoa học xã hội và của các ngành, các địa phương tăng nhanh, quá nhanh so với khả năng đầu tư xây dựng của Nhà nước, mặc dù Uỷ ban đã xuất phát từ các mục tiêu kinh tế và khoa học và kỹ thuật, từ thực trạng của các cơ quan nghiên cứu, triển khai, từ các nguồn viện trợ quốc tế, mà kiến nghị đầu tư xây dựng có trọng điểm, theo thứ tự ưu tiên, nhằm từng bước hình thành một mạng lưới hợp lý.
Đến cuối năm 1985, đã có 130 Viện nghiên cứu, 25 Viện thiết kế quy hoạch và một số Trung tâm nghiên cứu - triển khai, ngoài ra còn hàng trăm trạm, trại thí nghiệm, 93 Trường đại học và cao đẳng có hoạt động nghiên cứu - triển khai. Trong số này có khá nhiều cơ quan, phương hướng nghiên cứu không rõ, điều kiện nghiên cứu thiếu thốn, hoạt động gặp nhiều lúng túng, khó khăn. Uỷ ban đã làm việc với các Bộ, Tổng cục, đã mở nhiều Hội nghị Viện trưởng để bàn phương hướng, biện pháp củng cố, tăng cường các cơ quan nghiên cứu triển khai đã có.
Một thành tích nổi bật về phát huy tiềm lực khoa học kỹ thuật trong thời kỳ này là đã dần dần hình thành cơ chế mới trong quản lý các cơ quan nghiên cứu - triển khai, góp phần xoá bỏ từng bước cơ chế quản lý hành chính bao cấp: Theo đề nghị của UBKHKTNN, Hội đồng Bộ trưởng và các cơ quan quản lý Nhà nước đã không xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai vào loại hình cơ quan hành chính và các hoạt động khoa học kỹ thuật vào phạm trù công tác hành chính nữa, đã cho phép cơ quan nghiên cứu - triển khai được tiến hành 3 loại hoạt động: nghiên cứu - triển khai, dịch vụ khoa học kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm kỹ thuật cao hoặc sản phẩm có nhu cầu xã hội, nhưng chưa có điều kiện đầu tư sản xuất đại trà, được chủ động ký kết hợp đồng kinh tế về nghiên cứu - triển khai với các cơ quan, cơ sở có nhu cầu, được trích lập ba quỹ trong cơ quan từ hợp đồng kinh tế và từ bán sản phẩm chế thử, cho phép thực hiện chế độ tín dụng đối với cơ quan nghiên cứu - triển khai và chế độ kiêm nhiệm đối với cán bộ khoa học kỹ thuật.
c. Quản lý công tác thông tin, tư liệu khoa học và kỹ thuật thời kỳ này được tăng cường hơn : UBKHKTNN đã tổ chức Hội nghị thông tin KHKT toàn quốc lần thứ hai vào tháng 3 năm 1977 nhằm triển khai việc thực hiện Nghị quyết 89/CP trong phạm vi cả nước
Uỷ ban đã cùng các ngành, các địa phương xây dựng được 1 hệ thống tổ chức thông tin khoa học và kỹ thuật tuy chưa hoàn chỉnh nhưng đã gồm hơn 200 đơn vị lớn nhỏ và khoảng 1500 cán bộ, nhân viên chuyên trách. Viện thông tin khoa học và kỹ thuật trung ương đã bồi dưỡng được 1 đội ngũ cán bộ giảng dạy thông tin học cơ sở và hàng năm đã gửi 20 cán bộ thông tin sang học tại trường nâng cao trình độ thông tin IPKIR ở Mát xcơ va. Viện đã chuyển việc xuất bản những ấn phẩm thông tin kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành cho các cơ quan thông tin chuyên ngành đảm nhiệm, nay chỉ xuất bản những ấn phẩm thông tin phục vụ lãnh đạo và quản lý khoa học và kỹ thuật (về đường lối chính sách phát triển KHKT của các nước, về cách mạng KHKT của thế giới, về tổ chức quản lý KHKT...), những ấn phẩm tóm tắt các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong nước, và những ấn phẩm hướng dẫn nghiệp vụ thông tin. Nội dung các ấn phẩm đó đã được nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu và giảng dạy khoa học và kỹ thuật thừa nhận có tác dụng nâng cao hiểu biết, giúp ích cho công tác. Viện còn thường xuyên tổ chức chiếu phim khoa học và kỹ thuật cho cán bộ lãnh đạo, quản lý khoa học và kỹ thuật xem và cho các cơ quan thuê mượn về chiếu. Viện đã mở thêm hình thức thông tin theo địa chỉ và bắt đầu sử dụng hình thức thông tin bằng triển lãm. Triển lãm "Những thành tựu về thông tin KHKT ở Liên Xô" đã được tổ chức năm 1982 ở Hà Nội với sự hợp tác cuả VINITI, sau triển lãm, phía Liên Xô đã tặng Viện toàn bộ thiết bị triển lãm. Viện đã phân bổ kinh phí và giấy in hàng năm cho các ngành, đã theo dõi giúp đỡ cơ quan thông tin khoa học và kỹ thuật của một số ngành, địa phương trọng điểm. Các dịch vụ thông tin KHKT bắt đầu có khó khăn vì nguồn bổ sung tài liệu của các nước Tư bản Chủ nghĩa giảm dần.
Thời kỳ này,Thư viện khoa học và kỹ thuật TW và Viện Thông tin khoa học và kỹ thuật TW đã bước đầu phối hợp với nhau mua sách báo cho đỡ trùng lặp - Tổng cục TCĐLCL và Cục Sáng chế cũng đã xây dựng được kho tư liệu phong phú về tiêu chuẩn kỹ thuật và mô tả sáng chế. Sau kháng chiến chống Mỹ, các phong trào Quốc tế quyên góp sách báo cho Việt nam không còn nữa, từ năm 1979 Trung Quốc cũng ngừng cung cấp tài liệu chụp lại các tạp chí tư bản. Ngoại tệ nhập sách báo rất có hạn. Để khắc phục một phần khó khăn kể trên, Thư viện KHKT TW đã cố gắng duy trì và mở rộng quan hệ quốc tế của mình (đến 1985 đã có quan hệ trao đổi sách báo với 120 tổ chức của 40 nước và nhận tài liệu tặng từ các tổ chức quốc tế như UNESCO, ACCT, FAO, SAREC...) đã cố gắng bảo đảm bổ sung hàng năm được 3000 - 5000 tên sách và 2000 - 2500 tên tạp chí. Thư viện đã tổ chức biên soạn khá nhiều thư mục quan trọng như thư mục cây lúa, thư mục vật liệu xây dựng, thư mục cách mạng khoa học và kỹ thuật, thư mục cho cán bộ lãnh đạo. Thư viện vẫn cố gắng tổ chức tốt việc phục vụ ban đọc tại chỗ cũng như việc cho mượn về nhà, về cơ quan, vẫn tiếp tục tranh thủ sự đóng góp của công tác viên trong việc lựa chọn tài liệu bổ sung, kiểm tra mục lục phân loại, biên soạn thư mục, v.v... vẫn sẵn sàng tiếp nhận cán bộ của các thư viện mới thành lập đến học hỏi nghiệp vụ.
Tuy nhiên, Thư viện khoa học và kỹ thuật TW còn thiếu tài liệu về khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật, về các nước nhiệt đới, các nước Đông Nam á về quản lý kinh tế, quản lý khoa học và kỹ thuật, các mục lục liên hợp hầu như chưa có.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về in và giấy, nhưng Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật đã đặt thêm chi nhánh ở Thành phố Hồ Chí Minh và cố gắng bảo đảm hoàn thành, có năm hoàn thành vượt mức kế hoạch xuất bản sách báo. Thể loại sách xuất bản phù hợp với chức năng của một nhà xuất bản tổng hợp về khoa học và kỹ thuật, chất lượng sách bảo đảm, nhiều cuốn rất có giá trị.
d. Quản lý vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật thời kỳ này cũng được tăng cường hơn:
Uỷ ban đã tích cực tham gia công tác kiểm kê vật tư, thiết bị của Nhà nước. Trên cơ sở kết quả tổng kiểm kê, đã xây dựng đề án cải tiến tổ chức và hoạt động của các cơ quan cung ứng, dịch vụ về VTTB khoa học và kỹ thuật, đã tiến hành điều hoà phối hợp việc sử dụng một số thiết bị quý hiếm, công suất cao. Hàng năm đến kỳ làm kế hoạch nhập vật tư khoa học và kỹ thuật, theo yêu cầu của Bộ vật tư, Uỷ ban cử cán bộ tham gia ý kiến vào các đơn đặt hàng do Bộ Vật tư tổng hợp. Cũng có trường hợp, Uỷ ban đứng ra tổng hợp một số đơn hàng nhập bằng tiền viện trợ. Trong tờ trình số 324-KHKT ngày 14 tháng 3 năm 1984, Uỷ ban đề nghị HĐBT quy định rõ thêm : Uỷ ban chịu trách nhiệm lập kế hoạch nhập thiết bị, vật tư KHKT theo mức kinh phí được Nhà nước duyệt. Bộ Ngoại thương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban để thực hiện kế hoạch nhập. Ngoại tệ không dùng hết được giữ lại dùng cho năm sau. Để thực hiện chỉ thị 412-TTg về việc tổ chức sản xuất vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban đã cùng Bộ Vật tư và Bộ Văn hoá tổ chức triển lãm các vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật sản xuất trong nước tại thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức các Hội nghị chuyên đề về sản xuất từng loại vật tư, thiết bị, trên cơ sở đó kiến nghị một số biện pháp thúc đẩy việc sản xuất vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật trong kế hoạch 5 năm 1981-1985 trong đó có kiến nghị Uỷ ban kế hoạch Nhà nước giao nhiệm vụ, cân đối các điều kiện cần thiết cho sản xuất và phân phối theo yêu cầu của UBKHKTNN. Theo quyết định của HĐBT, nhiệm vụ cung ứng dịch vụ vật tư, thiết bị khoa học và kỹ thuật và Công ty vật tư khoa học và kỹ thuật được chuyển tư Bộ Vật tư sang Uỷ ban từ năm 1983, Uỷ ban cố gắng cải tiến công tác này theo hướng tập trung phục vụ một số vấn đề khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước.
Sau giải phóng miền Nam, HĐCP còn giao cho Uỷ ban tiếp quản công ty máy tính điện tử IBM và quản lý thống nhất hệ thống MTĐT trong cả nước. Thực hiện chức trách này, Uỷ ban đã cùng các ngành nghiên cứu nhu cầu tính toán bằng MTĐT đến năm 1985. Uỷ ban đã ban hành thông tư hướng dẫn sử dụng hợp lý, đầy đủ công suất các MTĐT đã có, bảo đảm kỹ thuật cho các Trung tâm MTĐT, quy định tạm thời giá cả cho các dịch vụ tính toán bằng MTĐT. Công ty MTĐT IBM đã cố gắng khắc phục khó khăn về phụ tùng thay thế và vật tư kỹ thuật để duy trì hoạt động của các MTĐT đã giao cho Công ty quản lý.
e. Thi hành Nghị định 192/CP, hàng năm Uỷ ban đã cùng Bộ Tài chính dự trù ngân sách cho khoa học và kỹ thuật, phân bổ kinh phí cho các ngành và ban hành một số quy định về quản lý tài chính cho khoa học và kỹ thuật như thông tư liên bộ số 33-TC/UBKHKTNN ngày 21 tháng 10 năm 1975 hướng dẫn việc quản lý chi tiêu về nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, thông tư liên bộ 31-TC/UBKHKTNN ngày 17/12/1980 hướng dẫn việc quản lý chi tiêu cho các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong điểm của Nhà nước, Thông tư liên bộ 03-TC/KHKT ngày 28 tháng 1 năm 1984 hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các quĩ trong cơ quan nghiên cứu, triển khai. Trong tờ trình số 324-KHKT ngày 14 tháng 3 năm 1984 Uỷ ban đề nghị HĐBT quy định rõ thêm : Uỷ ban KHKTNN chịu trách nhiệm phân bổ, điều chỉnh kinh phí hoạt động KHKT cho các Bộ, Tổng cục; Bộ Tài chính bảo đảm việc cấp phát theo sự phân bố, điều chỉnh của Uỷ ban KHKTNN; Các Bộ, Tổng cục bảo đảm sử dụng đúng sự phân bố, điều chỉnh của UBKHKTNN và đúng chế độ, thể lệ của Nhà nước.
Ngân sách dành cho khoa học và kỹ thuật hàng năm có tăng nhưng thời giá cũng tăng, nên chỉ đủ để trả lương, để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trọng điểm của Nhà nước và khoảng 1/3 số nhiệm vụ nghiên cứu của các ngành, các cơ sở. Trong những năm tới, cần tăng thêm mức đầu tư cho khoa học và kỹ thuật để từng bước thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị.
g. Quản lý công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài thời kỳ này, có một bước phát triển mới: Uỷ ban được uỷ quyền thương mại về hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài (Theo công văn số 1220/VT ngày 3/4/1982) do đó đã thành lập Công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật (TECHNIMEX), và theo công văn số 5287/VT ngày 15 tháng 11 năm 1983, HĐBT đã quyết định chuyển giao công tác xuất nhập chuyên gia văn hoá, giáo dục từ Tổng công ty Technoimport (Bộ Ngoại thương) sang công ty Technimex (UBKHKTNN). HĐBT đã cho phép Uỷ ban thành lập bộ phận khoa học và kỹ thuật trực thuộc đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài. Thời kỳ này, Uỷ ban đã giúp Nhà nước mở rộng quan hệ và hợp tác về khoa học và kỹ thuật với 1 số nước tư bản chủ nghĩa và các tổ chức quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Cục TCĐLCL Nhà nước đã là thành viên của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO), của ban thường trực về tiêu chuẩn hoá của SEV, đã tham gia hiệp ước chuẩn đo lường của SEV, đang tiếp nhận viện trợ của Thuỵ Điển và PNUD. Uỷ ban đã đề nghị Chính phủ thừa nhận công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá. Cục sáng chế đã tham gia tổ chức thế giới về quyền sở hữu trí tuệ (OMPI). Viện thông tin khoa học và kỹ thuật TW đã là thành viên của Trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật quốc tế, là Trung tâm INFOTERRA Việt Nam của hệ thống thông tin khoa học và kỹ thuật toàn cầu của Liên hiệp quốc (UNISIST). Thư viện khoa học và kỹ thuật TW duy trì quan hệ vốn có về trao đổi tài liệu khoa học và kỹ thuật với nhiều thư viện lớn của các nước khác. Nhà xuất bản đã có quan hệ hợp tác xuất bản sách tiếng Việt và từ điển Nga - Việt với 2 nhà xuất bản Liên Xô.
Uỷ ban đã tiến hành kế hoạch hoá công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài, hướng vào phục vụ cho các chương trình tiến bộ khoa học và kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước và một phần nào cho hoạt động sản xuất và khoa học và kỹ thuật của các địa phương. Đã có những đề tài hợp tác nghiên cứu dài hạn với các nước XHCN như cơ giới hoá trồng lúa, trồng khoai. Trong 5 năm 1981 - 1985, các nước XHCN đã viện trợ không hoàn lại cho Việt nam 20 triệu rúp để tiến hành các hoạt động hợp tác KHKT và 8,2 triệu rúp để trang bị thêm cho 12 cơ sở KHKT. PNUD đã dành cho khoảng 14 triệu USD để phát triển các cơ quan KHKT khác. Việt kiều cũng đã giúp đỡ một phần. Hợp tác quốc tế đã góp phần đáng kể vào việc tăng cường tiềm lực KHKT của chúng ta, đã giúp chúng ta giải quyết được khá nhiều vấn đề KHKT quan trọng, làm chủ được một số công nghệ mới, kỹ thuật mới. Một số giống cây trồng, vật nuôi đã thích nghi và phát huy tác dụng trong sản xuất. Uỷ ban đã trình HĐBT dự thảo "Điều lệ quản lý công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài "nhằm đưa công tác này vào nền nếp, làm cho hoạt động này có hiệu quả hơn và khắc phục những khuyết, nhược điểm còn tồn tại.
7. Để thực hiện tốt chức năng quản lý thống nhất về khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, ngoài việc giúp Đảng và Chính phủ xây dựng các chính sách, chế độ, kế hoạch khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban đã chăm lo hơn việc xây dựng hệ thống tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và kỹ thuật từ Trung ương đến cơ sở. Trong thời kỳ này, Uỷ ban đã có những tờ trình đề nghị Chính phủ quy định rõ thêm một số mặt công tác của Uỷ ban, sửa đổi, bổ sung, kiện toàn tổ chức của Uỷ ban, đã có những thông tư hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng khoa học và kỹ thuật các cấp Bộ, Tỉnh, Huyện, Liên hiệp xí nghiệp, Viện nghiên cứu triển khai, của Vụ KH và KT Bộ, Tổng cục, của Ban, Uỷ ban KH và KT Tỉnh , Thành phố. Thời kỳ này hầu hết các Bộ, Tổng cục đã có Vụ khoa học và kỹ thuật, tất cả các Tỉnh, Thành phố, đặc khu đã có Uỷ ban khoa học và kỹ thuật. Một số ngành như Nông nghiệp, Thuỷ Lợi, Y tế đã lập Phòng khoa học và kỹ thuật ở Sở, Ty. Hầu hết các cơ sở quy mô vừa và lớn đã có phòng quản lý khoa học (Viện, Trường Đại học, Bệnh viện) hoặc phòng kỹ thuật (xí nghiệp công nghiệp). Uỷ ban đã tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên trong hệ thống về quản lý các công tác kế hoạch hoá, TCĐLCL, sáng kiến - sáng chế, thông tin khoa học và kỹ thuật.
Uỷ ban quan tâm đến công tác khoa học và kỹ thuật địa phương ngay từ khi mới thành lập, nhưng sau khi Đại Hội Đảng lần thứ 4 đã khẳng định đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn mới có một nội dung quan trọng là vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, Uỷ ban mới thực sự quyết tâm tăng cường quản lý công tác khoa học và kỹ thuật địa phương, tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ việc xây dựng tổ chức và hoạt động của các Ban, Uỷ ban khoa học và kỹ thuật địa phương. Đánh dấu bước chuyển biến quan trọng này là Uỷ ban đã tổ chức Hội nghị khoa học và kỹ thuật địa phương toàn quốc lần thứ nhất vào 4 ngày 27-30/9/1977 với nội dung được chuẩn bị chu đáo gồm báo cáo về tình hình công tác khoa học và kỹ thuật của các địa phương trong thời gian qua và phương hướng công tác khoa học và kỹ thuật của các địa phương trong thời gian 1976-1980, báo cáo về đề án tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật ở địa phương và báo cáo có tính chất hướng dẫn về công tác điều tra tổng hợp ở địa phương, với thành phần gồm đại diện của Uỷ ban nhân dân, Ban tổ chức Chính quyền, Uỷ ban kế hoạch, Sở, Ty công nghiệp, nông nghiệp và Ban khoa học và kỹ thuật (nếu có) của các Tỉnh, Thành phố trong cả nước và đại diện của Phủ Thủ tướng, của một số Bộ chủ chốt. Hội nghị này đã tiếp sức cho Uỷ ban trong cuộc đấu tranh với khuynh hướng cho rằng công tác khoa học và kỹ thuật của các địa phương đã được UBKHKTNN thống nhất quản lý, và các Bộ, Tổng cục chỉ đạo theo ngành dọc rồi, không cần có Ban khoa học và kỹ thuật làm nhiệm vụ quản lý tổng hợp, thống nhất ở địa phương nữa, cũng như với khuynh hướng cho rằng Ban khoa học và kỹ thuật không phải là tổ chức chân rết của Uỷ ban ở địa phương, cấp uỷ và chính quyền địa phương nào thấy cần thì lập không thì thôi, Uỷ ban không cần can thiệp tích cực.
Thời kỳ này, các cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật đã tách khỏi Uỷ ban, Uỷ ban có điều kiện chăm lo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, nền nếp công tác của Uỷ ban hơn.
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến cuối thời kỳ này, cơ cấu tổ chức đã cơ bản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban. Hầu như mỗi nhiệm vụ cụ thể đã có 1 tổ chức thích hợp đảm nhiệm. Việc thành lập các Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật và các Hội đồng khoa học và kỹ thuật là hợp lý, chức năng quản lý hay tư vấn của từng tổ chức được phân biệt rõ rệt hơn so với các Ban khoa học trước đây. Việc thành lập Cục sáng chế, Vụ vật tư khoa học và kỹ thuật, Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật địa phương và Ban nghiên cứu tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật tạo điều kiện cho Uỷ ban thực hiện tốt hơn chức trách quản lý thống nhất về các mặt công tác này cũng như nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật. Việc sáp nhập 3 cục ĐL,TC,KTCLSP và Viện định chuẩn thành Cục TCĐLCL Nhà nước rồi thành Tổng cục TCĐLCL tạo điều kiện thuận lợi về tổ chức cho 3 mặt công tác này phối hợp mật thiết với nhau để cùng phát triển.
Đội ngũ cán bộ nhân viên của Uỷ ban phát triển nhanh. Uỷ ban đã xây dựng quy hoạch cán bộ cục, vụ, viện, phòng. Dựa vào quy hoạch này, đã bồi dưỡng, đề bạt cán bộ phụ trách cục, vụ, viện mỗi đơn vị 1-2 người (khoảng 35 người), bồi dưỡng, đề bạt đủ cán bộ phụ trách phòng (khoảng 100 người). Nhờ hợp tác quốc tế được mở rộng, Uỷ ban đã cử hơn 300 lượt người đi khảo sát, học tập ở nước ngoài về quản lý khoa học và kỹ thuật, về nghiệp vụ công tác thông tin, thư viện TCĐLCL, sáng chế, kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật... đã tổ chức cho hơn 200 cán bộ học ngoại ngữ tại chức, đã cử gần 200 cán bộ đi học các lớp lý luận cao, trung cấp về chủ nghĩa Mác-Lênin và quản lý kinh tế. Đội ngũ cán bộ phát triển nhanh nhưng vẫn chưa đủ để triển khai mọi mặt công tác quản lý khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước, như còn thiếu cán bộ thành thạo nghiệp vụ, có kinh nghiệm quản lý để triển khai các công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương, nghiên cứu về tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật, chiến lược khoa học và kỹ thuật, quản lý sáng chế phát minh...
Uỷ ban đã xây dựng nhiều chế độ, thể lệ về quản lý khoa học và kỹ thuật, được Chính phủ ban hành hoặc tự mình ban hành, có tác dụng đưa công tác quản lý khoa học và kỹ thuật của Uỷ ban và của các ngành, các cấp vào nền nếp mở rộng quyền chủ động của các cơ quan nghiên cứu triển khai, đưa thêm đòn bẩy kinh tế vào cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật. Mỗi khi cần tổ chức nghiên cứu, đề nghị chủ trương, chính sách, chế độ về khoa học và kỹ thuật với Đảng và Chính phủ, Uỷ ban đều thực hiện nền nếp tập hợp đầy đủ ý kiến của Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương, các cơ sở có liên quan. Uỷ ban đã thực hiện từ năm 1979 nền nếp tổ chức Hội nghị hàng năm về khoa học và kỹ thuật địa phương nhằm tổng kết công tác năm qua và đề ra phương hướng công tác năm mới, và từ năm 1982 đã thực hiện việc quyết định bổ nhiệm các trưởng, phó ban khoa học và kỹ thuật trên cơ sở thoả thuận với cấp uỷ và chính quyền địa phương. Nền nếp tổng kết công tác khoa học và kỹ thuật hàng năm với các ngành được khôi phục lại chậm hơn, từ năm 1983. Trong nội bộ Uỷ ban, đã xây dựng và thực hiện một số quy trình công tác có nhiều đơn vị tham gia như quy trình công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật quy trình công tác quản lý KHKT địa phương... nhằm cải tiến các công tác này trên cơ sở phân công hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị có liên quan, và quy chế làm việc của lãnh đạo Uỷ ban với các đơn vị trực thuộc nhằm chỉ đạo thực hiện tốt hơn những công tác đã được phân công phụ trách.
8. Nhìn chung, trong bối cảnh đất nước mới thống nhất, lại phải đối phó với 2 cuộc chiến tranh biên giới, nền kinh tế còn mất cân đối, chưa ổn định, trình độ kỹ thuật còn thấp kém, đời sống còn nhiều khó khăn, chiến lược phát triển kinh tế chưa có, cơ chế quản lý kinh tế còn mang nặng tính chất hành chính bao cấp, hoạt động khoa học và kỹ thuật thời kỳ này đã được đẩy mạnh thêm một bước, đã có những chuyển biến tốt và những đóng góp đáng kể: Mọi hoạt động khoa học và kỹ thuật, từ nghiên cứu triển khai đến áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quản lý kỹ thuật đều cố gắng tập trung phục vụ những mục tiêu kinh tế quan trọng, cấp bách, trong khuôn khổ các chương trình KHKT trọng điểm của Nhà nước. Nhiều kết quả đã phục vụ có hiệu quả các yêu cầu phát triển sản xuất, bảo đảm đời sống trước mắt và chuẩn bị phục vụ các yêu cầu lâu dài sau này. Tiềm lực KHKT từ đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, hệ thống các cơ quan nghiên cứu triển khai, quản lý kỹ thuật, thông tin - tư liệu khoa học kỹ thuật đến Liên hiệp các Hội KHKT có phát triển và phát huy tác dụng tốt. Hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài được mở rộng và tranh thủ được viện trợ của nhiều nước và tổ chức quốc tế. Nguyên nhân của những tiến bộ kể trên:
+ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 4 đã làm cho các cấp lãnh đạo coi trọng công tác khoa học và kỹ thuật hơn. Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 51- HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng đã phát huy tác dụng chỉ đạo và thúc đẩy mọi mặt hoạt động khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương.
+ Hệ thống các cơ quan tư vấn và quản lý khoa học và kỹ thuật được hình thành và củng cố, hoạt động đúng chức năng và ngày càng có nền nếp, có hiệu quả, trong đó UBKHKTNN đã thực hiện tương đối tốt vai trò tham mưu và thống nhất quản lý về khoa học và kỹ thuật của mình.
+ Phương thức quản lý khoa học và kỹ thuật có chuyển biến tốt theo hướng vừa tăng cường các công cụ pháp chế và kế hoạch vừa bước đầu sử dụng đòn bẩy kinh tế trong cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật nhằm cố gắng thoát dần khỏi cơ chế hành chính bao cấp.
Trong tình hình kinh tế và xã hội còn rất nhiều khó khăn, hoạt động KHKT tuy có nhiều tiến bộ nhưng cũng còn nhiều mặt hạn chế, đòi hỏi UBKHKTNN cùng các ngành, các cấp mau chóng kiện toàn tổ chức, cải tiến công tác của các cơ quan tham mưu và quản lý khoa học - kỹ thuật, từ Trung ương đến cơ sở, để khắc phục những mặt hạn chế đó và tạo nên một bước chuyển biến mới mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Thời kỳ 1986-1992
(1965 - 3/1990 Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, 4/1990 - 10/1992 Uỷ ban Khoa học Nhà nước)
Đây là giai đoạn có những thay đổi quan trọng trong đường lối, chủ trương, chính sách về xây dựng đất nước, tác động mạnh mẽ và quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, sự phát triển khoa học và công nghệ nói riêng và có ảnh hưởng đến quá trình xây dựng tổ chức bộ máy quản lý của Uỷ ban.
1. Đường lối đổi mới toàn diện đất nước, chủ trương chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu sang nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN đã được Đại hội Đảng VI (1986) khẳng định, chỉ đạo toàn bộ việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý khoa học - kỹ thuật *.
Nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986) đã khẳng định " Cơ chế quản lý kinh tế, quản lý khoa học - kỹ thuật phải đòi hỏi và khuyến khích việc sáng tạo và ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - kỹ thuật, đưa lại hiệu quả thiết thực".
Trong thời kỳ 1986-1992, một trong những nghị quyết quan trọng nhất, định hướng sự phát triển KHCN Việt Nam nói chung và kiện toàn Uỷ ban nói riêng là Nghị quyết số 26 NQ/TU ngày 30-3-1991 của Bộ chính trị (khóa VI) về "Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới". Nghị quyết đã xác định rõ chủ trương, chính sách, phương hướng, nhiệm vụ và các biện pháp lớn thúc đẩy hoạt động KHCN, trong đó khẳng định: Kiện toàn ủy ban Khoa học Nhà nước đủ sức thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước các hoạt động khoa học và công nghệ trong phạm vi cả nước.
* Thuật ngữ khoa học-kỹ thuật (KHKT) được sử dụng từ 1989 trở về trước; bắt đầu từ 1990, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, trong các văn bản pháp luật bắt đầu dùng thuật ngữ khoa học-công nghệ (KHCN). Hiện chưa có sự phân định thật rõ ràng khái niệm 2 thuật ngữ này.
2. Với việc đổi mới công tác kế hoạch hoá kinh tế, chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN, nâng cao quyền chủ động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (Quyết định 217-HĐBT tháng 11-1987), cơ chế quản lý kinh tế cũng như quản lý KHCN trong giai đoạn chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có những thay đổi rất quan trọng; đối tượng, phạm vi cũng như nội dung quản lý được mở rộng buộc phải nhanh chóng đổi mới chế độ quản lý, phương thức quản lý, tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước một cách đồng bộ, toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã được Đại hội VI, VII khẳng định.
Những phương hướng, nhiệm vụ và nội dung về kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trong lĩnh vực kinh tế cũng như trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã được khẳng định trong nhiều Nghị quyết của Đảng, một lần nữa nói lên sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước trong việc lãnh đạo và chỉ đạo sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước trong thời kỳ mới và kiện toàn Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước nhằm giúp Chính phủ quản lý tốt một lĩnh vực hoạt động rất quan trọng của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới để khoa học và công nghệ thực sự trở thành chỗ dựa, nền tảng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Bối cảnh lịch sử trên quyết định phương hướng xây dựng và kiện toàn bộ máy của Uỷ ban và các tổ chức trực thuộc, khẳng định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ, chế độ và phương thức quản lý cũng như nội dung xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước trong lĩnh vực quản lý khoa học, công nghệ và môi trường trong suốt thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.
A - Chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban trong giai đoạn 1986-1992
Về chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1986-1989) về cơ bản vẫn thực hiện theo Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (ban hành kèm theo Nghị định số 192-CP ngày 13-10-1975 của HĐCP).
Từ năm 1965, sau khi tách Uỷ ban Khoa học Nhà nước thành hai cơ quan: Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, công tác quản lý hoạt động nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn không thuộc chức năng quản lý của Uỷ ban KHKTNN nữa.
Ngày 31-3-1990, Hội đồng Nhà nước đã ra Nghị quyết số 244/NQ-HĐNN8 đổi tên Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước thành Uỷ ban Khoa học Nhà nước để giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về lĩnh vực khoa học và kỹ thuật (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội) trong phạm vi cả nước, thực hiện chính sách phát triển khoa học và kỹ thuật của Đảng và Chính phủ, nhằm phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghiã xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng.
Việc Chính phủ giao cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước thực hiện chức năng thống nhất quản lý Nhà nước về lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội trong phạm vi cả nước trong thời kỳ phát triển mới của đất nước đã nâng cao trách nhiệm và tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để Uỷ ban thực hiện thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong việc nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển KHCN, phương hướng, nhiệm vụ và các biện pháp thúc đẩy sự phát triển toàn diện các ngành khoa học, phục vụ tích cực sự nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước trong thời kỳ đổi mới.
B- Về tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
1-Tổ chức bộ máy Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước về cơ bản thực hiện theo Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (ban hành kèm theo Nghị định số 192-CP ngày 13-10-1975 của HĐCP).
Trong thời gian này có một số thay đổi và điều chỉnh về mặt về mặt tổ chức Bộ máy:
+ Giải thể một số đơn vị (Vụ Quản lý KHKT địa phương, Ban Thi đua khen thưởng, Vụ Vật tưKHKT, Công ty Vật tư KHKT.... )
+ Thành lập một số đơn vị mới ( Vụ Quản lý KH xã hội và nhân văn, Văn phòng xét duyệt trữ lượng khoáng sản, Trung tâm ứng dụng tiến bộ KHKT, Trung tâm thông tin Tư liệu KHCN Quốc gia, Viện Nghiên cứu tổ chức và quản lý KH và KT, Viện Dự báo chiến lược và chính sách KH......)
Về tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước được trình bày theo sơ đồ kèm theo (tính đến 30-9-1992).
2 - Về cán bộ lãnh đạo Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
Ông Đặng Hữu giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (bắt đầu từ tháng 5/1982 đến tháng 10/1996)
Các Phó chủ nhiệm và Uỷ viên Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước gồm: các ông Đoàn Phương ( 3/1978 đến 2/ 1993), Hoàng Đình Phu (6/1980 đến4/1988), Nguyễn Ngọc Trân (Từ 6/80 đến 10/ 1992), Đường Hồng Dật 12/ 1982 - 8/87 ), Lê Quí An (từ 12/1982 đến 12/1995), Trần Trí ( Từ 9/85 đến 4/ 88 ), Chu Tuấn Nhạ ( Từ 2/91 đến 9/ 97) , và các uỷ viên Uỷ ban gồm đồng chí Lê Tâm ( từ 5/1975 đến tháng 9/1986), Trần Trí (từ tháng 5/1975 đến tháng 8/19 85).
C. Những chủ trương và hoạt động chính của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước - Uỷ ban Khoa học Nhà nước
C.1. Công tác tham mưu
Về xây dựng Nghị quyết của Bộ Chính trị về KHCN
Một trong những công tác tham mưu quan trọng nhất thời kỳ 1986-1992 là việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo Nghị quyết Bộ Chính trị về KHCN. Những năm trước đây, chính sách phát triển KHKT được thực hiện theo Nghị quyết số 37/NQTƯ ngày 20-4-1981 của Bộ Chính trị (khoá IV).
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý KHCN đã có những chuyển biến quan trọng theo hướng phù hợp với chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sản phẩm khoa học trở thành một loại hàng hoá đặc biệt luân chuyển trong nền kinh tế quốc dân.
Theo tinh thần đổi mới của Đại hội Đảng VI, cần thiết có một nghị quyết mới về KHCN nhằm xác định được mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng nhằm đổi mới về tổ chức và cơ chế quản lý nhằm từng bước làm cho KHCN trở thành động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển kinh tế kinh tế - xã hội, đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Công tác triển khai nghiên cứu chuẩn bị xây dựng nghị quyết của Bộ Chính trị về KHCN đã được thực hiện từ giữa năm 1988 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp. Ban biên tập văn kiện đã được thành lập do đồng chí Đặng Hữu làm Trưởng ban. Dưới ánh sáng nhhững quan điểm đổi mới toàn diện đất nước đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội VI (1986) và các nghị quyết của Trung ương tiếp sau đó, Uỷ ban với chức năng thường trực Ban soạn thảo nghị quyết đã tổ chức triển khai công việc nghiên cứu xây dựng dự thảo nghị quyết đã phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành, các địa phương, huy động một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao là lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học lớn để tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động KHCN ở cơ sở (các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất kinh doanh), những điển hình làm khoa học tốt trên cơ sở đó xây dựng các biện pháp chính sách khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong thời kỳ mới.
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26/NQ-TW ngày 30-3-1991 về "Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới", Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng và Ban Khoa giáo Trung ương tổ chức 2 hội nghị phổ biến nghị quyết tại Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh cho đông đảo đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, thủ trưởng các viện nghiên cứu, trường đại học, các Vụ KHKT bộ và Uỷ ban KHKT địa phương).
Về xây dựng các chính sách theo từng lĩnh vực
Trong thời kỳ đổi mới (1986-1992), Lãnh đạo Uỷ ban đã quan tâm tổ chức nghiên cứu xây dựng một số chính sách cụ thể sau:
- Chính sách chất lượng
- Chính sách tài chính KHCN
- Chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu - triển khai.
- Chính sách cán bộ KHCN
- Chính sách thông tin khoa học và công nghệ
Một số chính sách đã được thể hiện trong việc xây dựng Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị ngày 30-3-1991 và trong các văn bản pháp luật của Chính phủ về quản lý chất lượng, quản lý và cấp phát tài chính, khuyến khích các cơ quan nghiên cứu - triển khai gắn hoạt động nghiên cứu với sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động thông tin KHCN phục vụ nghiên cứu - triển khai và đổi mới công nghệ, thành lập các tổ chức KHCN trong tất cả các thành phần kinh tế...
Về xây dựng chiến lược KHCN
Theo sự phân công của Chủ tịch HĐBT và sự chỉ đạo của Tiểu ban nghiên cứu Chiến lược KHKT, đã tổ chức soạn thảo và trình lên Tiểu ban chuẩn bị văn kiện Đại hội Đảng VII đề án "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000". Đã xây dựng "Chiến lược kinh tế biển" trình Thủ tướng Chính phủ 11/1992.
Với sự tập trung chỉ đạo của Lãnh đạo Uỷ ban, sự nổ lực của các đơn vị đã hoàn thành việc xây dựng "Dự thảo chiến lược phát triển KHKT của Việt Nam giai đoạn 1990-2000". Tài liệu này đã được chuẩn bị công phu, đúc rút kết quả của nhiều năm làm công tác dự báo và chiến lược KHKT, tập trung trí tuệ của đông đảo cán bộ KHKT nước ta tham gia, bản tài liệu này đã được trình lên Hội đồng Bộ trưởng và đã được đánh giá tốt, nhiều đề xuất của "Dự thảo" đã được sử dụng trong việc hình thành văn bản "Dự thảo chiến lược kinh tế - xã hội" của Ban Chiến lược kinh tế - xã hội của Hội đồng Bộ trưởng
C.2. Công tác kế hoạch KHCN
Từ năm 1986 trở về trước, chế độ kế hoạch hoá KHCN vẫn được thực hiện theo Nghị định 263/CP. Tuy chưa có văn bản thay thế, nhưng từ kế hoạch 1986 trở đi, hệ thống kế hoạch hoá đã có một số cải tiến, hoàn thiện về nội dung và phương pháp.
- Chuyển từ kế hoạch pháp lệnh giao "số kiểm tra" sang kế hoạch hướng dẫn theo các nhiệm vụ và hướng trong điểm, ưu tiên về KHCN của Nhà nước.
- Nhà nước bắt đầu sử dụng một số công cụ chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế thị trường theo định hướng kế hoạch như tổ chức theo 3 chương trình kinh tế lớn, các hương ưu tiên trong nghiên cứu - triển khai, tổ chức theo hệ thống các chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước, cấp Bộ ngành và địa phương.
- Phương thức ký kết hợp đồng để thực hiện các chương trình, đề tài và dự án sản xuất - thử nghiệm được áp dụng phổ biến cho việc thực hiện kế hoạch KHCN các cấp.
Trong giai đoạn đổi mới, việc xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ quốc gia được thực hiện theo hướng tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm và ưu tiên đã được xác định, đồng thời gắn với sản xuất và đời sống, nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ được chuyển sang thực hiện ở khu vực doanh nghiệp. Thông qua cải tiến đó số lượng chương trình theo xu hướng tập trung: 54 chương trình trong kế hoạch 1986 - 1990, 31 chương trình trong kế hoạch 1991 - 1995. Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ còn lại được bố trí vào kế hoạch của các Bộ, ngành và địa phương theo hướng gắn với chức năng nghiên cứu thường xuyên của các viện nghiên cứu và triển khai chuyên ngành.
Do rút kinh nghiệm và có sự chuẩn bị sớm về mặt nghiệp vụ, Bộ đã ban hành văn bản Hướng dẫn xây dựng kế hoạch KHKT, tổ chức xây dựng các chương trình KHKT 5 năm 1986-1990 và 1991-1995 để hướng dẫn các Bộ ngành, các địa phương thực hiện. Đối với việc xây dựng kế hoạch KHKT và chương trình KHKT 5 năm thì đến tháng 10 của năm kết thúc kế hoạch 5 năm trước, kế hoạch KHCN cấp Nhà nước, cũng như kế hoạch KHCN của các ngành, các địa phương về cơ bản đã tiến hành bảo vệ xong và đầu năm kế hoạch 5 năm đã triển khai việc ký hợp đồng giao nhiệm vụ, phân bổ tài chính cụ thể cho từng nhiệm vụ kế hoạch KHCN cấp Nhà nước và cho các ngành, địa phương.
Đồng thời với việc đổi mới chế độ kế hoạch hoá KHCN, Uỷ ban cũng đã tổ chức việc tuyển chọn cơ quan chủ trì và cán bộ làm chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu. Trong cơ chế mới, các chủ nhiệm chương trình và đề tài được quyền chủ động nhiều hơn phù hợp với cơ chế thị trường, nhưng đồng thời cũng có trách nhiệm nặng nề hơn. Kết quả là thời gian thực hiện các đề tài thường được rút ngắn hơn so với những năm trước đây, chất lượng nghiên cứu tăng lên. Nhiều đề tài đã gắn với thực tế sản xuất và đời sống, có đóng góp tích cực trong việc chuẩn bị luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển ngành, địa phương; đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Để nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu, thúc đẩy nhanh việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, từ năm 1990 trở đi, Uỷ ban Khoa học Nhà nước thực hiện một hình thức mới: ký kết hợp đồng thực hiện các dự án sản xuất thử - thử nghiệm. Đây là hình thức mới trong hoạt động phát triển công nghệ để chuẩn bị cho việc triển khai ứng dựng những thành tựu KHCN vào sản xuất và đời sống. Uỷ ban đã ban hành Quy định tạm thời số 432/THKH hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện các dự án kinh tế-kỹ thuât. Hàng năm Uỷ ban đã ký giao nhiệm vụ từ trên 40 đến gần 100 dự án SXT-TN. Bình quân mỗi năm, tỉ lệ kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho hoạt động KH-CN được dành ra để hỗ trợ cho việc thực hiện các dự án SXT-TN thường chiếm khoảng 5 - 8% tổng mức đầu tư cho KH-CN, trong giai đoạn 1990-1992 cũng đã hỗ trợ khoảng 40 tỷ đồng để thực hiện các dự án sản xuất thử - thử nghiệm. Ngoài 148 dự án SXT-TN được triển khai từ kết quả các đề tài cấp Nhà nước (chủ yếu là của giai đoạn 1986-1990), một số đề tài sau khi nghiên cứu thành công trong những năm 1991-1992 đã được đưa ngay vào triển khai các dự án.
C 3. Công tác quản lý kỹ thuật, công nghệ
1. Tiêu chuẩn-đo lường- chất lượng
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng có nhiều chuyển biến phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế nhiều thành phần, mở cửa, chấp nhận cạnh tranh và hoà nhập quốc tế, khu vực.
Liên tiếp trong 2 năm 1990 và 1991, Nhà nước đã công bố Pháp lệnh Đo lường (1990) và Pháp lệnh chất lượng hàng hoá (1991) là cơ sở pháp lý cao nhất và đề cập một cách hoàn chỉnh và toàn diện hoạt động tiêu chuẩn hoá, quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý đo lường.
Sự đổi mới trong quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng thể hiện trong từng lĩnh vực theo hướng chuyển từ cơ chế "mệnh lệnh, áp đặt" sang cơ chế lấy "khuyến khích, định hướng" là chủ yếu, đề cao quyền tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, đồng thời tăng cường sự quản lý của Nhà nước ở những khâu trọng yếu, tạo sự bình đẳng trong quyền lợi và trách nhiệm của các thành phần kinh tế. Trên cơ sở đó, mọi hoạt động của 3 lĩnh vực này tập trung thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, hướng mạnh về xuất khẩu, tăng cường khả năng cạnh tranh và hợp tác, đẩy nhanh quá trình hội nhập với khu vực và thế giới.
Ngoài ra cũng đã nghiên cứu, quy hoạch và xác định phương hướng phát triển hệ thống các phòng thí nghiệm đo lường đối với từng lĩnh vực đo, nghiên cứu chế tạo các chuẩn đo lường và các phương tiện đo nhằm đáp ứng yêu cầu trong nước đối với các loại phương tiện đo thông dụng như chuẩn khối lượng, dung tích, thiết bị kiểm tra công tơ điện, công tơ nước, các loại cân (kể cả cân lớn cho ô tô, toa xe), áp kế, dụng cụ đo điện, đo độ dài trong công nghiệp, dụng cụ đo đếm điện năng, lưu lượng nước, v.v...
Đồng thời việc đẩy mạnh công tác xây dựng TCVN, tăng cường công tác kiểm định đo lường, từ năm 1986, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đã tập trung kiện toàn lại tổ chức các Trung tâm TC-ĐL-CL khu vực và tổ chức các Chi cục TC-ĐL-CL các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm đáp ứng các yêu cầu mới trong quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trrong nền kinh tế thị trường.
Công tác tiêu chuẩn hoá có nhiều đổi mới về phương diện xây dựng TCVN làm cho các tiêu chuẩn ban hành có chất lượng chuyên môn cao, bám sát yêu cầu quản lý Nhà nước, đặc biệt là hệ thống TCVN đối với các sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và sản phẩm xuất khẩu.
Công tác quản lý đo lường có những tiến bộ đáng kể về trình độ cán bộ, cơ sở vật chất-kỹ thuật cũng như khả năng hoà nhập quốc tế và khu vực.
Công tác quản lý chát lượng có nhiều chuyển biến vè phương thức hoạt động, chuyển từ quản lý trực tiếp về chất lượng đối với sản phẩm và cơ sở sản xuất sang hình thức tổ chức, hướng dẫn thanh tra thực hiện các chính sách, qui định về quản lý chất lượng.
Kể từ sau khi Nhà nước đã công bố Pháp lệnh Đo lường (1990) và Pháp lệnh chất lượng hàng hoá (1991), các văn bản của Chính phủ, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã tập trung xây dựng hoàn chỉnh một hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở cho công tác quản lý Nhà nước thống nhất về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, nâng cao vai trò và vị trí công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trong lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi và niềm tin để mở rộng quan hệ buôn bán với các nước, hoà nhập với thị trường quốc tế.
Những văn bản pháp luật chủ yếu về quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trong giai đoạn 1986-1992 bao gồm:
Quyết định số 225-HĐBT ngày 5-2-1987 về việc ban hành các TCVN về đại lượng và đơn vị đo lường.
Chỉ thị số 222/CT ngày 6-8-1988 về các biện pháp cấp bách củng cố và tăng cường công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hoá.
Quyết định số 207-HĐBT ngày 29-12-1988 về kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu.
Qui định về việc thi hành Pháp lệnh Đo lường (ban hành kèm theo Nghị định số 115-HĐBT ngày 13-4-1991 của Hội đồng Bộ trưởng)
Qui định về việc thi hành Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá (ban hành kèm theo Nghị định số 327-HĐBT ngày 19-10-1991 của Hội đồng Bộ trưởng)
2. Quản lý về điều tra điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Trong công tác điều tra tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội những kết quả thu được tại các vùng đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Đông Nam bộ ... đã được sử dụng làm căn cứ khoa học cho các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển khoa học-kỹ thuật
Công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu về tài nguyên và môi trường có định hướng tích cực, giúp cho việc đánh giá tiềm năng các loại tài nguyên, đặc biệt các loại khoáng sản quý hiếm, dầu khí, v.v...
Từ năm 1985 trở về trước, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về khoa học - kỹ thuật trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tài nguyên và môi trường (Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước có Vụ Điều tra cơ bản). Từ các kết quả nghiên cứu của các chương trình điều tra cơ bản tổng hợp này, các chương trình và đề tài có liên quan và những thực tiễn trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, các vấn đề môi trường ngày càng rõ ràng, với chức năng của mình Uỷ ban đã chủ trì, phối hợp với nhiều ngành để soạn thảo trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết 246/HĐBT. Đó là văn kiện đầu tiên của Chính phủ tương đối toàn diện và có hệ thống về lĩnh vực này trong đó Uỷ ban được coi như một đầu mối để phối hợp.
Dựa theo đó, các công trình nghiên cứu và các hoạt động tiếp theo đã được đánh dấu bởi sự tiến hành "Hội nghị khoa học quốc tế về môi trường" đầu tiên ở nước ta, được UNDP tài trợ và với sự cộng tác giúp đỡ của SIDA, UNE, WCN (tháng 12 năm 1991). Kết qủa quan trọng của Hội nghị là bản "Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển lâu bền 1991- 2000" đã được hoàn thành và trình Chính phủ. Kế hoạch này đã được phép Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thực hiện từng bước. Ngoài ra Hội nghị này cũng đã góp ý kiến cho bản dự thảo đầu tiên của Luật Bảo vệ môi trường.
Đó là các mốc quan trọng, làm tiền đề cho sự thành lập Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường vào cuối tháng 10 năm 1992 và đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường vào 10-1-1994 cùng hàng loạy các hoạt động mạnh mẽ và có hệ thống hơn trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Môi trường là một vấn đề có tính thời đại. Hoạt động bảo vệ môi trường được Nhà nước quan tâm và phê duyệt kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000. Điều đó đánh dấu một mốc quan trọng, mở đầu cho thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước có tính đầy đủ đến các yếu tố môi trường. Từ năm 1992 hệ thống quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đã được thành lập từ Trung ương đến địa phương và bắt đầu các hoạt động tích cực thực hiện Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội phê chuẩn cuối năm 1993.
3. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Đây là thời kỳ cả nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, trong bối cảnh đó nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường ngày càng trở nên bức bách. Chính vì vậy, trong quá trình chuẩn bị văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã đề nghị đưa vấn đề "xây dựng và phát triển các hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp" vào Báo cáo chính trị của Đại hội và đề nghị này đã được chấp nhận. Từ đó vấn đề xây dựng và phát triển hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã được lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo và trở thành nội dung hoạt động chủ yếu của Cục Sáng chế.
Để mở rộng việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã nghiên cứu soạn thảo và trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp (13-5-1987), Điều lệ về giải pháp hữu ích (28-12-1988) và Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (28-12-1988). Các Thông tư hướng dẫn thi hành các Điều lệ nói trên của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước và các Bộ, ngành có liên quan cũng đã được ban hành vào thời điểm tương ứng.
Như vậy là cho đến cuối 1988, 4 đối tượng chủ yấu của quyền sở hữu công nghiệp (Sáng chế, Nhãn hiệu hàng hoá, Kiểu dáng công nghiệp, Giải pháp hữu ích) đã lần lượt được triển khai theo từng nghị định riêng của Chính phủ (hoặc Hội đồng Bộ trưởng).
Để hoàn chỉnh và nâng cao hiệu lực của hệ thống văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới mà Đảng đã đề ra trong Đại hội VI, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã chủ trì nghiên cứu và trình Nhà nước ban hành Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Pháp lệnh này đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố ngày 11-2-1989. Sau khi Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được ban hành, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 84-HĐBT ngày 20-3-1990 nhằm sửa đổi bổ sung các Điều lệ về sáng kiến - sáng chế, Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá, Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp, Điều lệ về giải pháp hữu ích đã được ban hành trước đó nhằm làm cho các Điều lệ này phù hợp với Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và trở thành Điều lệ hươngs dẫn thi hành pháp lệnh cho từng đối tượng sở hữu công nghiệp mà pháp lệnh qui định. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước cũng đã ban hành thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 84-HĐBT (Thông tư số 1134/SC ngày 17-10-1991) và được sự hỗ trợ của của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành thông tư hướng dẫn xét xử một số tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp (Thông tư số 3/NCPL ngày 22-7-1989).
Việc công bố Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (11-2-1989) và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh là sự kiện quan trọng, đánh dấu sự thay đổi về chất của hệ thống bảo hộ quyền SHCN ở nước ta. Hệ thống pháp luật đó phù hợp với tập quán và xu thế chung của thế giới trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới của sự nghiệp công nghiệp hoá và xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Trong những năm sau khi công bố Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (11-2-1989), số đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và số văn bằng đã cấp tăng liên tục.
Nếu như năm 1990 Cục Sáng chế nhận được 1.825 đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ các loại đối tượng (trong đó có 640 đơn của người nước ngoài) và đã cấp 825 văn bằng bảo hộ (trong đó có 277 văn bằng bảo hộ cấp cho người nước ngoài) thì đến năm 1992 Cục Sáng chế nhận được 5.421 đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ các loại đối tượng (trong đó có 3.086 đơn của người nước ngoài) và đã cấp 3.806 văn bằng bảo hộ (trong đó có 1.853 văn bằng bảo hộ cấp cho người nước ngoài).
Trong thời kỳ này, ngoài việc tích cực triển khai các hoạt động sở hữu công nghiệp, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước phối hợp chặt chẽ với Tổng công đoàn, Trung ương đoàn TNCS Hồ Chí Minh, trên cơ sở qui chế phối hợp 3 bên ký năm 1985, thực hiện những biện pháp có hiệu quả để phát triển phong trào phát huy sáng kiến của quần chungs: như phối hợp với Trung ương đoàn TNCS Hồ Chí Minh ban hành qui chế tổ chức Hội thi triễn lãm tuổi trẻ sáng tạo, cấp huy hiệu tuổi trẻ sáng tạo, phối hợp với Tổng công đoàn trong việc xét cấp bằng Lao động sáng tạo cho những cá nhân có sáng kiến mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội lớn, tổ chức các Hội thi triển lãm sáng tạo khoa học kỹ thuật ...
Đặc biệt là Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã phối hợp với Tổng công đoàn, Trung ương đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam tổ chức thành công các Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc vào các năm 1990, 1991.
Phối hợp với các ngành, các địa phương và các tổ chức xã hội tổ chức thi hành các qui định của Nhà nước về sáng kiến và sở hữu công nghiệp; thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ các lợi ích quốc gia trong hoạt động sở hữu công nghiệp, đặc biệt là trong việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở nước ngoài; phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện các biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các bên liên quan về sở hữu công nghiệp;
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sở hữu công nghiệp tâp trung xây dựng hệ thống văn bản pháp luật để làm cơ sở pháp lý góp phần đảm bảo lợi ích của các cơ sở sản xuất kinh doanh, của các nhà khoa học trong việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Mặt khác khuyến khích việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, ngăn ngừa hàng giả và kinh doanh trái phép, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng cũng như người sản xuất.
Về mặt tổ chức đã củng cố và tăng cường hệ thống cơ quan quản lý chuyên trách hoặc kiêm nhiệm hoạt động sở hữu công nghiệp từ trung ương đến địa phương, tổ chức đào tạo nghiệp vụ cho hơn 5000 cán bộ quản lý, tổ chức phong trào lao động sáng tạo trong phạm vi cả nước.
Xây dựng được cơ sở dữ liệu lớn về sở hữu công nghiệp phục vụ công tác xét nghiệm đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp và hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, thương mại (khoảng 17 triệu bản mô tả sáng chế dạng giấy, đĩa quang, vi phim, vi phiếu của 27 nước và tổ chức quốc tế, các công báo nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp của 10 nước và tổ chức quốc tế).
4. Quản lý việc xét duyệt trữ lượng khoáng sản
Công tác xét duyệt trữ lượng khoáng sản đã được bắt đầu từ những năm 70, nhưng bước vào thời kỳ đổi mới, do yêu cầu phải tăng cường công tác quản lý trữ lượng khoáng sản, Hội đồng Bộ trưởng đã Quyết định 100-HĐBT ngày 25-8-1986 về việc bổ sung nhiệm vụ và tổ chức Hội đồng Xét duyệt trữ lượng khoáng sản, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Ban hành các qui phạm về thăm dò, phân cấp trữ lượng khoáng sản và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật để tính trữ lượng khoáng sản.
- Xét duyệt các chỉ tiêu tính trữ lượng khoáng sản.
Vè mặt tổ chức, theo Quyết định 100-HĐBT qui định Cơ quan Thường trực của Hội đồng Xét duyệt trữ lượng khoáng sản là Văn phòng Hội đồng đặt tại Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước
Trong giai đoạn từ 1986 đến 1992, Văn phòng đã giúp Hội đồng Xét duyệt trữ lượng khoáng sản tổ chức kiểm tra, xét duyệt hàng trăm báo cáo địa chất thăm dò tính trữ lượng đối với 42 loại kháng sản khác nhau. Các báo cáo thăm dò này đã được sử dụng để thiết kế và khai thác, trong đó có những khoáng sản giữ vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế cuả nước ta như dầu khí, than đá, nước ngầm, nước khoáng, các nguyên liệu sản xuất xi măng, v.v ...
5. Đánh giá trình độ công nghệ của sản xuất
Việc đánh giá trình độ công nghệ sản xuất đã được khởi động mạnh trong năm 1989. Uỷ ban đã tổ chức một Tổ nghiên cứu để chăm lo xây dựng phương pháp luận và triển khai việc đánh giá trình độ công nghệ sản xuất của các cơ sở sản xuất, ngành kinh tế - kỹ thuật, và một số địa phư[ng. Đây là công tác rất quan trọng, nhưng do chưa coi trọng nên không triển khai, nay phải tổ chức từ đầu, các đơn vị đã hợp tác khá chặt chẽ, phối với với một số Bộ ngành (chủ yếu là công nghiệp và xây dựng) và địa phương đã hoàn thành Phương pháp đánh giá, hướng dẫn và làm thử một số ngành đã tổ chức đánh giá trình độ công nghệ ở 14 cơ sở trong điểm như sản xuất máy cắt kim loại, sản xuất xi măng... Kết quả là đã có tờ trình Chủ tịch HĐBT ra chỉ thị về tiến hành đánh giá trình độ công nghệ của sản xuất đối với các ngành kinh tế quốc dân. Đợt đánh giá tương đối qui mô, dù chưa phải là hoàn hảo, nhưng đã tạo điều kiện để có sự nhìn nhận toàn diện hơn nữa tài sản và trình độ công nghệ, làm cơ sở cho việc tận dụng năng lực hiện có và xây dựng phương hướng nâng cao trình độ công nghệ trong tương lai.
Việc tham gia tổng kiểm kê tài sản cố định theo Quyết định 101/HĐBT phục vụ cho việc định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1991-1995 đã được thực hiện tích cực. Uỷ ban đã lập Ban thường trực, đã phối hợp nghiên cứu định ra phương pháp đánh giá giá trị tài sản cố định theo hao mòn vô hình và trình độ công nghệ. Đây là công việc quan trọng để Uỷ ban phát huy được chức năng quản lý Nhà nước của mình nắm được thực trạng của sản xuất để có định hướng trong xây dưnựg chính sách công nghệ quốc gia.
C.4. Công tác xây dựng pháp luật khoa học và công nghệ
Công tác xây dựng pháp luật KHCNMT đã chuyển dần sang quỹ đạo phục vụ sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đã có bước phát triển mới, nội dung quản lý được mở rộng, chất lượng văn bản và hiệu lực pháp lý ngày càng được nâng cao và từng bước đồng bộ với những đổi mới nhanh chóng và hoàn thiện của hệ thống pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Từ chỗ mới chỉ có các Nghị định của Chính phủ điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu trong hoạt động KHCN, tiến đến ban hành Pháp lệnh, cấp độ pháp lý ngày càng được nâng cao (từ 1988 trở về trước, toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật khoa học, công nghệ và môi trường mới chỉ dừng lại ở mức cao nhất do Chính phủ ban hành). Trong thời gian ngắn 4 năm từ 1988 đến 1991 đã ban hành các Pháp lệnh sau:
Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào VN (1988)
Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (1989)
Pháp lệnh Đo lường (1990)
Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá (1991)
Để thực hiện các Pháp lệnh nêu trên, Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đã chủ trì soạn thảo và Chính phủ đã ban hành 4 Nghị định (Nghị định số 115-HĐBT ngày 13/4/1991 ban hành Qui định về việc thi hành Pháp lệnh đo lường; Nghị định số 327-HĐBT ngày 19/10/1991 ban hành Quy định về việc thi hành Pháp lệnh chất lượng hàng hoá; Nghị định 84-HĐBT ngày 20-3-1990 sửa đổi bổ sung các Điều lệ về sáng kiến - sáng chế, Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá, Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp, Điều lệ về giải pháp hữu ích; Nghị định số 49-HĐBT ngày 4/3/1991 qui định chi tiết việc thi hành pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam) và Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện.
Giai đoạn 1986 đến 1992, Bộ đã tập trung lực lượng nghiên cứu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị về công tác KHCNMT, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng đã phối hợp với các Bộ hữu quan ban hành các Thông tư liên bộ và tự ban hành nhiều quyết định, thông tư, chỉ thị để triển khai thực hiện các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Sau đây nêu lên một số văn bản quan trọng do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành:
Quyết định số 134-HĐBT ngày 31/8/1987 của HĐBT về một số biện pháp khuyến khích công tác khoa học và kỹ thuật.
Chỉ thị số 199-CT ngày 25/6/1988 của Chủ tịch HĐBT về việc sắp xếp và kiện toàn mạng lưới các cơ quan NCKH và TKKT ở nước ta.
Chỉ thị số 222/CT ngày 6/8/1988 của Chủ tịch HĐBT về các biện pháp cấp bách nhằm củng cố và tăng cường công tác quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm.
Chỉ thị số 95/CT ngày 4/4/1991 của Chủ tịch HĐBT về công tác thông tin khoa học và công nghệ.
Quyết định số 187/CT ngày 12/6/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc triển khai thực hiện "Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền".
Nghị định số 242-HĐBT ngày 5/8/1991 của HĐBT ban hành về việc các bên nước ngoài và phương tiện nước ngoài vào nghiên cứu khoa học ở các vùng biển nước CHXHCN Việt Nam.
Nghị định số 06-HĐBT ngày 6/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc hành lập Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia.
Nghị định số 35-HĐBT ngày 28/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác quản lý khoa học và công nghệ.
Quyết định số 324-CT ngày 11/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Còn rất nhiều văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhưng đến nay đã hết hiệu lực không nêu ra. Các văn bản của liên Bộ, của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành hơn 100 văn bản để hướng dẫn chi tiết thi hành các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ chúng tôi không nêu trong danh mục nói trên.
Đối với việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hoạt động khoa học xã hội và nhân văn Bộ cần nghiên cứu xây dựng những qui định cụ thể để quản lý hoạt động khoa học này, tạo điều kiện thuận lợi mở rộng mối quan hệ quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn với cộng đồng khoa học quốc tế.
C.5. Quản lý tiềm lực KHCN
1. Tài chính KHCN
Trong thời kỳ 1986-1992, Bộ đã tiến hành thay đổi phương thức cấp phát tài chính cho KHKT. Bộ đã trực tiếp nhận trách nhiệm quản lý kinh phí, trước hết cho các nhiệm vụ KHKT trọng điểm theo cơ chế hợp đồng trực tiếp, tự chịu trách nhiệm.
Trong từng kỳ kế hoạch, Bộ đã có sự trao đổi bàn bạc ngay từ đầu xây dưnựg kế hoạch với Bộ Tài chính, dự kiến cơ cấu chi và cơ chế quản lý cụ thể với các nội dung chi phần kinh phí ngân sách Trung ương cấp do Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật tự quản lý. Đã tích cực tiến hành các thủ tục mở tài khoản cấp 3 để cấp phát và thanh quyết toán trực tiếp đối với các đề tài hợp đồng, chuẩn bị đầy đủ các biểu mẫu cho việc triển khai kế hoạch tài chính theo từng năm kế hoach.
Đã chủ động phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước về bố trí vốn xây dưnựg cơ bản cho các cơ quan nghiên cứu KHKT trong kỳ kế hoạch 5 năm 1986-1990, đã thường xuyên theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện XDCB nên đã thực hiện kế hoạch có kết quả, một số cơ quan nghiên cứu - triển khai đã được xây dựng mới và mở rộng.
Bảng1: Số liệu đầu tư cho KHCN trong thời gian 1986-1992
|
Năm |
GDP |
Chi ngân sách Nhà nước |
Đầu tư (Tỷđồng ) |
cho KHCN |
Tỷ lệ |
Đầu tư % |
|
|
(Tỷđồng ) |
(Tỷđồng ) |
Xây dựng cơ bản |
Sự nghiệp KH |
So với GDP |
So với chi ngân sách |
|
1986 |
|
|
0, 252 |
0, 700 |
|
1, 60 |
|
1987 |
|
|
0, 263 |
1, 400 |
|
1,20 |
|
1988 |
|
|
2, 100 |
13, 000 |
|
1,50 |
|
1989 |
|
|
14, 280 |
45, 000 |
|
0,98 |
|
1990 |
|
|
16, 400 |
70, 000 |
|
1, 10 |
|
1991 |
76.707 |
12. 081 |
17, 000 |
90, 000 |
0,14 |
0, 89 |
|
1992 |
110.535 |
23. 711 |
19, 000 |
184, 000 |
0, 18 |
0,86 |
2. Thông tin tư liệu KHCN
Bước vào thời kỳ đổi mới, hoạt động thông tin KHKT đã được sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo của Chính phủ nhằm phục tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, phát triển KHKT của đất nước. Tháng 9-1987 Hội thảo quốc gia về chính sách thông tin KHKT đã được khai mạc dưới sự chủ toạ của Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp nhằm xem xét và đánh giá hiện trạng hoạt động thông tin KHKT thời gian qua và nêu lên nhiều kiến nghị về phương hướng và biện pháp tăng cường công tác thông tin KHKT ở nước ta.
Bước ngoặt mới về đổi mới tổ chức hoạt động thông tin KHKT là Quyết định 487/TCCB ngày 24-9-1990 của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước về việc thành lập "Trung tâm thông tin tư liệu KHCN quốc gia" trên cơ sở hợp nhất Viện Thông tin KHKT trung ương và Thư viện KHKT trung ương để giúp Uỷ ban thực hiện chức năng trung tâm thông tin tư liệu KHCN của Nhà nước và quản lý thống nhất hoạt động thông tin tư liệu KHCN trong cả nước.
Sau khi Chủ tịch HĐBT ban hành Chỉ thị số 95/CT ngày 4/4/1991về công tác thông tin khoa học và công nghệ, Uỷ ban đã tổ chức phổ biến quán triệt trong toàn mạng lưới các cơ quan thông tin KHCN, trên cơ sở đó đã hướng dẫn và thảo luận kế hoạch hoạt động thông tin tư liệu của 37 đơn vị, xây dựng đề cương phương hướng hoạt động 1991-1995.
Trong giai đoạn 1986-1992, công tác xây dựng và kiện toàn hệ thống thông tin KHCN trong cả nước từ trung ương, đến các ngành và địa phương là một trong những công tác trọng tâm sau khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 95/CT ngày 4/4/1991 của Chủ tịch HĐBT về công tác thông tin khoa học và công nghệ.
Ngoài Trung tâm Thông tin tư liệu KHCN quốc gia, có có 2 cơ quan thông tin chuyên dạng tài liệu sáng chế và tiêu chuẩn, cùng với 44 viện, trung tâm thông tin ngành tạo thành bộ khung cơ bản của hệ thống thông tin KHCN quốc gia.
Ngoài ra còn có 44 cơ quan thông tin địa phương với các chức năng tổ chức thông tin đa ngành, 262 tổ chức thông tin cơ sở trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp, các thư viện tổng hợp ở các địa phương, thư viện ở các trường đại học, viện và các kho lưu trữ tư liệu ở trung ương và địa phương.
Trên cơ sở các nguồn thông tin thu thập được, các cơ quan thông tin đã tạo ra được một hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin phong phú có tác dụng mở rộng kiến thức, bước đầu góp phần vào việc chuẩn bị các quyết định của lãnh dạo các cấp và đáp ứng một số yêu câù cho công tác nghiên cứu, thiết kế.
Vấn đề có tầm quan trong đặc biệt, đó là việc từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu. Viện thông tin KHKT trung ương đã nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu thử nghiệm về tài liệu KHKT công bố của Việt Nam trên máy Olĩetti, đã cài tiếng Việt sử dụng phần mềm CDS/ISIS. Trên 100 ấn phẩm thư mục và tóm tắt xuất bản định kỳ đã cố gắng giới thiệu bao quát các nguồn tư liệu nhằm cung cấp cho các cơ quan quản lý, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất kinh doanh, dich vụ và đông đảo đội ngũ cán bộ KHKT trong cả nước. Đã xuất bản các ấn phẩm thông tin chọn lọc, các tổng luận phân tích chuyên đề và các chuyên khảo với tổng số trên 300 loại, phát hành hàng vạn bản, hướng vào những vấn đề ưu tiên của phát triển kinh tế-xã hội, khoa học và công nghệ.
Ngoài việc đâỷ mạnh xây dựng cơ sở các dữ liệu phục vụ thông tin theo địa chỉ, theo chuyên đề, Trung tâm Thông tin tư liệu KHCN quốc gia còn biên soạn và xuất bản 12 loại ấn phẩm thông tin: Tóm tắt tài liệu KHKT Việt Nam, Thông báo tài liệu mới, Thông tin chiến lược khoa học-kỹ thuật- kinh tế, Tổng luận khoa học-kỹ thuật- kinh tế, Thông tin chuyển giao công nghệ, Thông tin môi trường, Vietnamese Scientific and Technical Abstracts ...
Hoàn thành công viêc biên tập và xuất bản sách "45 năm KHCN Việt Nam".
Các cơ quan thông tin ngành, địa phương đã rất chú ý đến việc tổ chức các dịch vụ thông tin và tuyên truyền phổ biến các thành tựu KHKT, các kết quả nghiên cứu, các kỹ thuật tiến bộ, kinh nghiệm tiên tiến.
Kết hợp với việc mua tài liệu, còn phát triển quan hệ hợp tác, trao đổi và tranh thủ viện trợ quốc tế, các cơ quan thông tin và tư liệu đã bổ sung và xây dựng được vốn tư liệu khá quan trọng bao gồm hàng triệu cuốn sách, gần 6.000 đầu tên tạp chí với hàng triệu số. Tạp chí các nước XHCN (trước 1990) chiếm 55%, trong nước 30% còn 15% nhập từ các nước khác, chủ yếu là các nước công nghiệp phát triển. Về ngôn ngữ các nguồn tài liệu: Nga văn 50%, Việt văn khoảng 25%, Anh văn khoảng 12%, Pháp văn khoảng 7%. Có 250 ngàn tiêu chuẩn, 6000 bản catalô công nghiệp, trên 3000 báo cáo địa chất, 4000 báo cáo kết quả nghiên cứu và luận án bảo vệ phó tiến sĩ và tiến sĩ trong nước.
Đội ngũ cán bộ thông tin tư liệu chuyên nghiệp được tăng cường về số lượng và chất lượng, trình độ được nâng cao và cập nhật thông qua hoạt động thực tế và qua những lứop đào tạo bồi dưỡng liên tục với nhiều nội dung mới: phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử, tin học tư liệu, kỹ thuật vi tính, thông tin công nghệ, phần mềm micro CDS/ISIS , truy cập từ xa (on-line) qua vệ tinh vớ cơ sở dữ liệu của Pháp , kỹ thuật CD-ROM ... Thường xuyên tổ chức các lớp cơ sở về thông tin, đào tạo sau đại học khoá II trong dự án PNUD đã kết thúc năm 1988 và từng năm vẫn gửi cán bộ đi ddào tạo sau đại học ở Pháp và nâng cao trình độ nghiệp vụ ở Liên Xô (trước năm 1990)
Tổ chức tốt Hội nghị thông tin KHCN toàn quốc lần thứ 3, hội nghị đã thông qua báo cáo tổng kết hoạt động 5 năm 1986-1990, đánh giá hiện trạng của mạng lưới và đề ra phương hướng hoạt động cho những năm 1991-1995.
Công tác thông tin tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đạt được sự tiến bộ lớn về tạo nguồn lực thông tin và áp dụng công nghệ thoong tin để nâng cao hiệu quả và phạm vi phục vụ.
III.6. Mở rộng quan hệ quốc tế về KHCN
Hợp tác khoa học và công nghệ đã chiếm một vị trí to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi đất nước thống nhất (1976), hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài được mở rộng sang các nước Tư bản Chủ nghĩa, các tổ chức quốc tế và các nước trong khu vực. Từ năm 1990 đến nay cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, công tác hợp tác khoa học và công nghệ đã ngày càng được tăng cường theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá. Việc hợp tác không chỉ dừng ở mức đi tìm sự hỗ trợ phát triển tiềm lực, mà ở mức cao hơn, đó là cùng phối hợp nghiên cứu, tập trung giải quyết các nội dung khoa học hai bên cùng quan tâm, hoặc thành lập các phòng thí nghiệm hỗn hợp, v.v...
Qui mô hợp tác được triển khai trên tất cả các lĩnh vực khoa học và công nghệ: khoa học tự nhiên, khoa học nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, khoa học y dược, khoa học xã hội và nhân văn và từ khâu nghiên cứu cơ bản, điều tra, thăm dò đến triển khai ứng dụng vào sản xuất và đời sống.
Loại hình hợp tác cũng rất phong phú, ban đầu là ta cử cán bộ, học sinh đi đào tạo, sau đó là trao đổi cán bộ dưới nhiều hình thức, trao đổi tài liệu và cuối cùng là phối hợp nghiên cứu.
Song song với việc đào tạo, nâng cao tri thức, Việt Nam còn tiếp nhận vật chất, trang thiết bị của nước ngoài để xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học và cơ sở đào tạo. Chúng ta cũng tiếp nhận, trao đổi nhiều sách, tạp chí, tài liệu kỹ thuật, bản vẽ, cây con giống, các vật tư quí hiếm, v.v...
Các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ trong một thời gian dài, từ thập kỷ 80 trở về trước phần lớn dựa vào sự viện trợ không hoàn lại của nước ngoài, mà chủ yếu là của Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa.
Quan hệ hợp tác giữa ta với nước ngoài thời gian đầu là quan hệ song phương và trong khuôn khổ hiệp định Chính phủ. Sau đó đã mở rộng mối quan hệ đa phương và dưới nhiều hình thức khác nhau. Từ năm 1990, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, quan hệ hợp tác của nước ta chủ yếu tập trung vào xây dựng các mối quan hệ mới với các tổ chức quốc tế, các nước phát triển, các nước trong khu vực.
Từ Đại hội Đảng VI (1986), thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện đất nước, xoá bỏ bao cấp, các hình thức hợp tác trực tiếp giữa các cơ sở đã trở nên sinh động. Sự hợp tác không còn diễn ra đơn phương kiểu viện trợ không hoàn lại như trước đây mà ngày càng chuyển dần sang hình thức các bên tham gia hợp tác đều có nghĩa vụ và quyền lợi bình đẳng.
Hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Giai đoạn 1986 - 1990
Việt Nam đã xúc tiến các hợp tác song phương với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác để thực hiện tích cực chương trình tổng hợp tiến bộ khoa học và công nghệ tới năm 2000 của Hội đồng tương trợ kinh tế. Giữa Liên Xô và Việt Nam đã xác định được 16 hướng ưu tiên trong hợp tác khoa học và công nghệ: Cây lương thực; Công nghiệp thực phẩm và công nghiệp vi sinh; Chăn nuôi; Điều tra tổng hợp biển và thềm lục địa; Tìm kiếm thăm dò dầu khí; Hoá học hoá nông nghiệp; Bảo vệ môi trường; Nhiệt đới hoá và bảo vệ chống ăn mòn...
Trên cơ sở các hướng ưu tiên này hai bên đã thống nhất một danh mục 70 đề tài hợp tác về khoa học và công nghệ 1986 - 1990.
Với hiệp định ký kết giữa hai Nhà nước ngày 29-10-1987 về các quan hệ sản xuất và khoa học và công nghệ trực tiếp giữa các liên hiệp, xí nghiệp, các cơ quan khoa học và công nghệ của hai nước với sự hỗ trợ của Tiểu ban hợp tác về khoa học và công nghệ Việt - Xô đã tiếp xúc với nhau nhanh chóng và thiết lập quan hệ. Có thể nêu một ví dụ điển hình là sự liên kết nghiên cứu và sản xuất giữa Viện Sinh vật ( Viện Khoa học Việt Nam trước đây), Trung tâm Nghiên cứu khoa học của Thành phố Đà Nẵng với Liên hiệp khoa học - sản xuất "Công nghệ sinh học" của Liên Xô trong khuôn khổ một trung tâm khoa học - sản xuất hỗn hợp Việt - Xô nghiên cứu và chiết xuất các chất hoạt tính sinh học từ các sinh vật biển.
Đối với Hội đồng tương trợ kinh tế, trong giai đoạn 1986 - 1990, ngoài các hình thức trao đổi chuyên gia, tài liệu, vật mẫu, cây, con giống đã áp dụng những hình thức hợp tác mới có hiệu quả cao như lập các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu khoa học chung; thành lập tập thể các nhà khoa học quốc tế nghiên cứu theo chuyên đề.
Qua hợp tác, Việt Nam đã nhận và tiến hành khảo nghiệm hàng nghìn mẫu giống cây trồng, vật nuôi, chọn được nhiều giống thích hợp cho năng suất cao. Các nhà công nghệ Việt Nam cũng đã nắm vững nhiều công nghệ mới; đưa vào sản xuất nhiều vật liệu mới; sản phẩm mới, đã nhận được khoảng 2 triệu bản mô tả sáng chế và tài liệu thông tin khoa học và công nghệ cần thiết cho phát triển khoa học và kỹ thuật giai đoạn 1986 - 1990. Theo thoả thuận, các nước thành viên tiếp tục dành cho Việt Nam 20 triệu rúp để tiến hành chương trình hợp tác. Tháng 12/1985, tại khoá họp 41 (khoá họp đặc biệt) của Hội đồng Tương trợ kinh tế, Việt Nam đã ký tham gia "Chương trình tổng hợp tiến bộ khoa học và kỹ thuật của các nước thành viên đến năm 2000". Chương trình đã đề ra nhiệm vụ: trong thời gian ngắn đạt trình độ cao của khoa học và công nghệ và sản xuất trên các hướng: Điện tử hoá nền kinh tế quốc dân; Tự động hoá đồng bộ; Năng lượng nguyên tử; Vật liệu mới và công nghệ sản xuất, gia công các vật liệu đó; Công nghệ sinh học.
Tại khoá họp đặc biệt 43 của Hội đồng Tương trợ kinh tế (1987), các nước thành viên đã đề ra nghị quyết về việc xây dựng một chương trình tổng hợp hợp tác giữa các thành viên châu Âu với Việt Nam, nhằm giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề kinh tế và khoa học và công nghệ. Đến cuối năm 1988, có 88 cơ quan của Việt Nam đã tham gia thực hiện 82 nhiệm vụ thuộc 19 vấn đề theo 5 hướng ưu tiên của chương trình tổng hợp. Tháng 3/1989 phía Việt Nam đã rà soát và rút việc tham gia 82 nhiệm vụ xuống tham gia 49 nhiệm vụ.
Sau khi Liên Xô tan vỡ (12-1991) các hiệp định khung cũ về hợp tác kinh tế và khoa học và công nghệ giữa hai nước không còn hiệu lực. Tháng 7-1992 giữa Việt Nam và CHLB Nga đã ký hiệp định mới về hợp tác khoa học và công nghệ. Hình thức hợp tác chủ yếu là mời chuyên gia bạn sang làm cộng tác viên, chuyển giao công nghệ của bạn vào nước ta. Một kế hoạch hợp tác cụ thể cho năm 1993 - 1995 cũng đã được thoả thuận giữa Trung tâm KHTN và CN quốc gia và Viện Hàn lâm Khoa học Công hoà Liên bang Nga.
Trung tâm KHXH và NV quốc gia đã đăng ký chương trình hợp tác nghiên cứu với Viện Hàn lâm Khoa học Mông Cổ (1986 - 1990), với Viện Hàn lâm Khoa học Cu Ba (1986 - 1990) về các vấn đề hoà bình, an ninh, hợp tác trong khu vực Châu A - Thái Bình Dương và vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Hợp tác với các nước trong khu vực như Nhật, ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan... đã được xúc tiến chủ yếu từ năm 1990 trở lại đây.
Đối với Lào và Cămpuchia: Việt Nam đã cử cán bộ sang giúp thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu.
Hợp tác khoa học và công nghệ với các nước tư bản chủ nghĩa
Hà Lan nhận đào tạo nhiều nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ nông. Chính phủ Hà Lan cung cấp cho những học bổng đi thực tập sau đại học ở các lĩnh vực như viễn thám, radio và T.V, công nghiệp dệt, da, v.v... Trong hai năm (1988 - 1989), Hà lan đã đào tạo cho Việt Nam một số chuyên gia trong lĩnh vực khoa học xã hội như quản lý Nhà nước, chiến lược phát triển, chính sách phát triển nông thôn, luật pháp quốc tế.
Hợp tác khoa học và công nghệ với Hà Lan còn thể hiện trong việc thực hiện 23 dự án với các trường đại học của Việt Nam, với giá trị trung bình 2 triệu USD mỗi dự án. Các dự án này đã giúp các trường đại học vừa có điều kiện phối hợp nghiên cứu, giảng dạy, vừa bổ sung trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm, nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo ở các trường này.
CHLB Đức hợp tác với ta có phần hạn chế hơn, chủ yếu là cấp các học bổng đi học và thực tập trong các ngành thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản như toán, lý, hoá và do vậy chiếm phần đáng kể là hợp tác với Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia.
Việt Nam và Thuỵ Điển đã hợp tác trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, chủ yếu thông qua hai cơ quan đầu mối là SAREC (Cơ quan hợp tác kinh tế và nghiên cứu Thuỵ Điển) và Uỷ ban khoa học và công nghệ Nhà nước (nay là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường). Ngoài việc cung cấp các thiết bị, chuẩn đo lường, y tế và nghiên cứu xử lý nền móng của giai đoạn 1979 - 1985 thì từ 1986 trở đi hai bên đã phối hợp nghiên cứu trong lĩnh vực y tế, xây dựng, nông nghiệp, chuyển giao công nghệ...
Cho tới năm 1988, tổng số các trang bị phòng thí nghiệm mà Thuỵ Điển cung cấp cho các cơ sở của Việt Nam đạt giá trị 650.000 curon, các loại hoá chất và sinh phẩm trị giá 600.000 curon, sách và tạp chí khoa học trị giá 150.000 curon... kể từ 1989, 4 đề án hợp tác nghiên cứu mới được bổ sung với giá khoảng 3,4 triệu curon Thuỵ Điển.
Trong thời gian qua, Thuỵ Điển đã viện trợ cho ta khoảng 3,5 triệu USD và 200 cán bộ của ta được gửi đi nâng cao trình độ, trong đó 4 tiến sĩ, 10 thạc sỹ... Kết quả hợp tác trong lĩnh vực nền móng và lâm nghiệp là đáng khích lệ. Năm 1991 - 1993 đã có 12 dự án nghiên cứu với vốn tài trợ 17 triệu curon được thoả thuận.
Hợp tác khoa học và công nghệ của Việt Nam với Pháp được bắt đầu kể từ khi Uỷ ban hỗn hợp về hợp tác văn hoá, khoa học và công nghệ được thành lập và nhóm họp kỳ đầu tiên vào tháng 5 năm 1978 tại Paris, trong gia đoạn đổi mới của Việt Nam, Pháp cũng là một trong những nước ở Tây âu giúp ta nhiều trong bảy lĩnh vực ưu tiên hợp tác mới được định hình, đó là: Nông nghiệp, Sinh học, Toán học ứng dụng và tin học, Năng lượng, Cơ sở hạ tầng, vật liệu, Thông tin khoa học và công nghệ, Y học.
Trao đổi thông tin khoa học và công nghệ là một khâu khá quan trọng trong hợp tác với Pháp. Pháp đã đào tạo cán bộ tin học và cung cấp cho Thư viện khoa học và công nghệ trung ương tổng số khoảng 4000 vi phiếu, 150 tạp chí, 500 sách khoa học và công nghệ hàng năm.
Công tác đào tạo cũng chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng trong quá trình hợp tác và được thực hiện ở nhiều loại hình đào tạo khác nhau với Pháp như: đào tạo giáo viên, đào tạo cán bộ nghiên cứu, đào tạo qua phối hợp nghiên cứu, đào tạo nâng cao, đào tạo kỹ thuật và chuyên môn, tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, v.v...
Năm 1992 - 1993, chúng ta đã ký kết chương trình hợp tác với Pháp gồm 50 đề mục, trong đó khoảng 30 đề án nghiên cứu tổng hợp. Hai bên phối hợp thành lập một số trung tâm như Trung tâm đào tạo tiếng Pháp, Trung tâm đào tạo về quản lý kinh tế... Từ năm 1991 đến nay có khoảng 100 người đi đào tạo ở Pháp và ta tiếp nhận trên 90 chuyên gia.
Hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và ôxtrâylia cũng đạt được những kết quả khích lệ nhất là trong lĩnh vực nâng cao trình độ ngoại ngữ và các kỹ thuật nông, lâm nghiệp.
Với Canada chúng ta có quan hệ hợp tác qua IDRC (Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc tế). Khoảng 10 dự án đã được triển khai.
Ngoài ra, từ những năm 90 trở lại đây, chúng ta đã bắt đầu triển khai mạnh các hợp tác với các nước như Mỹ, và các nước trong khu vực.
Về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học XH và NV đối với các nước Tây - Bắc Âu, Trung tâm KHXH và NV quốc gia chủ yếu có hợp tác khoa học với Pháp. Ngoài ra Trung tâm còn có quan hệ hợp tác với các nước như Anh, Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Mỹ, Canada, v.v...
Hợp tác khoa học và công nghệ với các tổ chức quốc tế
Nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế đã góp phần không nhỏ vào việc hiện đại hoá các cơ quan nghiên cứu, đào tạo cán bộ khoa học tại các nước có trình độ phát triển cao và giúp cho Việt Nam có được số lượng quan trọng các tài liệu và thông tin khoa học mang tính thời sự.
Việt Nam đã có quan hệ và nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như: UNDP (Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc), ISF (Quĩ khoa học quốc tế), FAO (Tổ chức nông lương thế giới), UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc), NGO (Các tổ chức phi Chính phủ), WIPO (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới). v.v...
Việc hợp tác với các tổ chức nói trên thường được thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại. Trong các nguồn này, đáng kể nhất phải kể đến sự viện trợ của UNDP.
Các trợ giúp của UNDP
Đến nay UNDP đã viện trợ cho Việt Nam được 4 tài khoá 1977 - 1982; 1982 - 1986, 1987 - 1991 và 1992 - 1996.
- Tài khoá 1987 - 1991
Phương châm của Việt Nam trong tài khoá này là quan tâm và ưu tiên các vấn đề công nghệ, tích cực tham gia vào chương trình tiến bộ khoa học và công nghệ dành cho các nước đang phát triển, nhất là ở khu vực châu á và Thái Bình Dương.
Tổng kinh phí cho tài khoá này là 104,095 triệu USD và được phân theo các mục tiêu đầu tư như sau:
- Tăng sản xuất lương thực và thực phẩm 30 %
- Các nhu cầu cơ bản 10 %
- Tài nguyên thiên nhiên 23 %
- Nâng cao hiệu quả đầu tư 33 %
- Ngoại thương 3 %
- Các ngành khác 7 %
ở tài khoá này khoản kinh phí dành cho thiết bị là 50 % tổng giá trị các đề án, giảm đi so với hai tài khoá trước nhưng bù lại ta đã tổ chức ở trong nước hàng chục lớp đào tạo, hội thảo theo các chuyên đề khác nhau và cũng cử nhiều cán bộ tham gia các hội thảo do UNDP tổ chức tại các nước đang phát triển khác nhất là các nước trong khu vực.
Chỉ riêng trong hai tài khoá đầu, UNDP đã giúp Việt Nam 82 dự án với giá trị 114 triệu USD, trong số đó khoảng 60 triệu USD dùng cho việc trang bị các kỹ thuật hiện đại cho các cơ sở nghiên cứu - triển khai và khôi phục lại một số cơ sở công nghiệp.
Tại hai tài khoá này, công nghiệp và nông nghiệp được chú trọng ưu tiên, ngoài ra vấn đề giải quyết nhân lực nông thôn cũng được quan tâm tới. Tuy nhiên các ngành công nghiệp chế biến, rất cần với một nước nông nghiệp như nước ta lại chưa được quan tâm thích đáng.
Để có thể phân tích cơ cấu các lĩnh vực kinh tế trong cả 3 tài khoá, ta có bảng so sánh sau:
Bảng 6: Các lĩnh vực được UNDP tài trợ qua 3 tài khoá
(1987 - 1991)
Lĩnh vực1987-1991 (%)1. Khai thác tài nguyên12,62. Nông nghiệp 32,93. Công nghiệp 31,54. Giao thông- Bưu điện 6,35. Phát triển nhân lực 1,96. Khoa học-kỹ thuật 7,27. Các lĩnh vực khác 7,6
Trợ giúp của các tổ chức quốc tế
- UNESCO
Việt Nam bắt đầu hợp tác với UNESCO từ năm 1977 và chủ yếu là trong các lĩnh vực giáo dục và văn hoá. Đến những năm cuối thập kỷ 80 ta mới có hợp tác với UNESCO về mặt khoa học. Việt Nam đã tranh thủ sự tài trợ của UNESCO để đào tạo cán bộ khoa học và trang bị nhỏ cho một số cơ sở như giúp xây dựng phòng thí nghiệm tin học của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 20.000 USD. Ngoài ra, UNESCO còn giúp ta một số lượng quan trọng các tài liệu khoa học và giúp cán bộ khoa học tham dự các hội nghị khoa học tại các nước đang phát triển.
Bên cạnh các giúp đỡ kể trên, UNESCO còn làm môi giới và thực hiện một số các đề án UNDP giúp Việt Nam như đề án của UNDP tài trợ cho Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh trị giá 500.000 USD.
- Các tổ chức khác
Bên cạnh sự giúp đỡ quan trọng về khoa học và công nghệ của các tổ chức nói trên, Việt Nam đã thiết lập và thực hiện sự hợp tác về khoa học với các tổ chức khác như FAO, ISF, WIPO, v.v...
FAO còn giúp Việt Nam đào tạo cán bộ chuyên sâu trong lĩnh vực nông nghiệp và nhận giúp các giống thích hợp để phát triển cây, con phù hợp với điều kiện Việt Nam và cho năng suất cao.
Một số lớn tài liệu về khoa học và công nghệ cũng đã đến Việt Nam qua con đường hợp tác với các tổ chức quốc tế, giúp cho cán bộ Việt Nam kịp thời nắm bắt được những thông tin và trào lưu mới trong khoa học.
Về lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Việt Nam đã có sự hợp tác và được sự giúp đỡ của WIPO (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới).
WIPO đã đào tạo nhiều cán bộ cho Việt Nam trong các lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Năm 1988 tổ chức này đã đầu tư một dự án trị giá 448.000 USD để trang bị các kỹ thuật cho Trung tâm Thông tin của Cục sáng chế - Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Cục Sở hữu công nghiệp - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường).
III.7. Quản lý hoạt động KHCN địa phương
Thời kỳ 1986-1990 công tác KHKT địa phương được đẩy mạnh lên một bước quan trọng. Triển khai Chỉ thị số 88-CT của Chủ tịch HĐBT về tăng cường công tác KHKT địa phương, tổ chức quản lý KHKT địa phương đã được kiện toàn và đổi tên thành Uỷ ban KHKT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng và nặng nề.
Vụ KHKT địa phương được thành lập từ 1982 đã thực hiện giúp Uỷ ban KHKTNN làm chức năng cơ quan đầu mối phối hợp mọi hoạt động của các địa phương trong kế hoạch hoạt động KHKT chung cuả cả nước. Công tác quản lý KHCN địa phương trong giai đoạn 1986-1989 đã được Lãnh đạo Uỷ ban quan tâm chỉ đạo sát và cụ thể. Hoạt động KHCN của địa phương trong sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã bước đầu được nhìn nhận đúng mức tầm quan trọng của nó, nên Uỷ ban đã có những chủ trương cụ thể, các văn bản hướng dẫn kiện toàn tổ chức các Uỷ ban KHKT tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mặt lãnh đạo, xây dựng cơ sở vật chất và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý.
Hàng năm Uỷ ban tổ chức đều đặn các cuộc họp tổng kết công tác KHKT địa phương, các buổi làm việc với Chủ nhiệm của Uỷ ban KHKT địa phương để rút kinh nghiệm công tác lãnh đạo, chỉ đạo nghiệp vụ của Uỷ ban đối với các địa phương. Các cuộc hội nghị tổng kết, các cuộc làm việc với các Chủ nhiệm Uỷ ban KHKT địa phương cũng là dịp tổng két các điển hình làm KHKT và trao đổi kinh nghiệm để nâng cao chất lượng quản lý Nhà nước về KHKT ở địa phương.
Đồng thời với việc kiện toàn tổ chức Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh, thành phố, và tổ chức các Hội đồng KHKT tỉnh, huyện, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã triển khai việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch KHKT 5 năm 1986-1990 và xây dựng các chương trình KHKT ở các địa phương, giúp đỡ xây dựng các qui chế quản lý, đặc biệt là triển khai công tác quản lý KHKT trên địa bàn huyện, tập trung vào việc tổ chức nhanh chóng đưa kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, tổng kết và nhân rộng các điển hình sản xuất giỏi. Đã bắt đầu xây dựng các trung tâm ứng dụng KHKT ở các địa phương để thực hiện việc chuyển giao nhanh các kết quả nghiên cứu, các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất và đời sống ở các địa phương, bước đầu thực hiện chức năng một "cầu nối" quan trọng trong việc gắn kết chặt chẽ nghiên cứu với sản xuất.
D - Kiện toàn tổ chức uỷ ban khoa học và kỹ thuật và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý
1. Về mặt xây dựng tổ chức Cơ quan
Lãnh đạo Uỷ ban đã từng bước kiện toàn các cơ quan thuộc khối quản lý đảm bảo thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước các lĩnh vực về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội và nhân văn, các mặt quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, sở hữu công nghiệp, điều tra và quản lý tài nguyên, xét duyệt trữ lượng khoáng sản...
Lần đầu tiên, Uỷ ban đã hình thành được cơ quan nghiên cứu khoa học nhằm chuẩn bị các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách và đổi mới cơ chế quản lý KHCN trong nền kinh tế thị trường. Công tác nghiên cứu các biện pháp chính sách khuyến khích hoạt động KHCN trong nền kinh tế thị trường đã có bước phát triển, đã nghiên cứu xây dựng một số văn bản pháp luật quan trọng trong việc đổi mới cơ chế quản lý KHCN (Quyết định 134-HĐBT ngày 30-8-1987), Nghị định 35-HĐBT ngày 28-1-1992...). Tuy nhiên, việc nghiên cứu về chính sách phát triển nguồn nhân lực KHCN làm chậm và không có một đơn vị nghiên cứu chuyên trách nào đảm nhiệm.
2. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý
Cùng với việc tạo thêm điều kiện và phương tiện làm việc cho đôi ngũ quản lý, Uỷ ban đã quan tâm tới việc tìm kiếm nhiều hình thức để đào tạo và bồi dưỡng nhằm thống nhất quan điểm của Đảng về phát triển KHCN trong nền kinh tế thị trường, về chức năng quản lý Nhà nước về KHCN của Uỷ ban và về nghiệp vụ quản lý KHCN theo từng lĩnh vực.
Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ quản lý khi chuyển sang nền kinh tế thị trường là việc rất cần thiết bảo đảm nâng cao chất lượng công tác quản lý. Với sự giúp đỡ của Liên Xô chúng ta đã thực hiện được 10 khoá đào tạo về quản lý KHKT (thời gian 4 tháng cho 30 cán bộ/mỗi khoá bắt đầu từ 1983 - 1987). Ngoài ra còn được Liên Xô tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý tiêu chuẩn hoá, thông tin KHKT... Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý sở hữu công nghiệp đã được thực hiện với nhiều hình thức như tham quan, khảo sát, nghiên cứu và dự các lớp đào tạo chính qui về quản lý hoạt động sở hữu công nghiệp.
Hàng năm Uỷ ban còn tổ chức các đợt phổ biến quán triệt các văn kiện của Đảng về KHCN (nghị quyết 26 của Bộ CT), các văn bản pháp luật quan trọng (các Pháp lệnh về Chuyên giao công nghệ, Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Đo lường, Chất lượng hàng hoá, quyết định 134-HĐBT về các biện pháp khuyến khích hoạt động KHKT, nghị định 35-HĐBT về công tác quản lý KHCN, hướng dẫn xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm ...) cho đội ngũ quản lý của Uỷ ban và lãnh đạo các viện, trường đại học và các Vụ quản lý KHKT Bộ, Tổng cục.
Công tác nghiên cứu biên soạn tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước về KHCN về một số chuyên ngành (tiêu chuẩn-đo lường-chất lượng, thông tin KHCN, sở hữu công nghiệp) đâ dược quan tâm, việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước về KHCN cho đội ngũ quản lý của Uỷ ban và các bộ ngành, các địa phương còn chưa nền nếp và trở thành một chế độ thuờng xuyên.
3. Đổi mới cơ chế quản lý KHCN
Từ sau Đại hội Đảng VI, cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý KHCN đã có những đổi mới quan trọng đáp ứng được việc nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý Nhà nước về KHCN khi chuyển sang nền kinh tế thị triường. Giai đoạn 1986-1992, bước đầu Uỷ ban đã xác định đúng một số nội dung quan trọng cần thiết tập trung nghiên cứu để có những chủ trương, chính sách cụ thể trong việc đổi mới cơ chế quản lý KHCN, đó là:
- Nghiên cứu các biện pháp khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế nghiên cứu, tạo ra và ứng dụng nhanh chóng các kết quả nghiên cứu, các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất.
- Nâng cao quyền chủ động của các cơ sở nghiên cứu trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồng KHCN với các cơ sở sản xuất, với các ngành, địa phương
- Mở rộng quyền thành lập các tổ chức KHCN trong tất cả thành phần kinh tế, hoạt động có đăng ký và được bình đẳng trong việc dự tuyển các cơ quan chủ trì, chủ nhiệm các đề tài KHCN các cấp.
- Đảm bảo việc trả công tương xứng với kết quả của người làm khoa học mang lại, Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp cho mọi tổ chức, cá nhân.
- Nâng cao chất lượng hoạt động của các Hội đồng KHCN chuyên ngành trong việc góp ý kiến, nhận xét, đánh giá về chủ trương, chính sách, định hướng phát triển KHCN, kế hoạch KHCN, trong việc lựa chọn các hướng nghiên cứu ưu tiên.
Đối với Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, với trách nhiệm làm nhệm vụ thường trực Hội đồng, chất lượng hoạt động của Hội đồng phụ thuộc phần lớn vào chất lượng công tác chuẩn bị tư liệu của Uỷ ban để trình ra các phiên họp của Hội đồng. Tài liệu được chuẩn bị kỹ, gửi trước để các thành viên Hội đồng nghiên cứu chuẩn bị ý kiến, bố trí lịch họp sớm để sắp xếp công việc sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, nhận xét, góp ý kiến của Hội đồng được tập trung và sát đúng hơn.
4. Xây dựng mối quan hệ làm việc tốt với các Bộ chức năng
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, chức năng quản lý Nhà nước của các Bộ ngành ngày càng nặng, phạm vi mở rộng, mỗi Bộ có nhiệm vụ và quyền hạn lớn trong công tác quản lý hoạt động KHCN trong ngành.
Để làm tốt chức năng quản lý Nhà nước về KHCN mà Chính phủ giao cho Uỷ ban, việc xây dựng tốt mối quan hệ công tác giữa Uỷ ban với các Bộ, trước hết là các Bộ chức năng (Kế hoạch, Tài chính) phải được bàn bạc thống nhất và thể chế hoá thành các qui định cụ thể trong những công việc quan trọng để thực hiện.
Thời kỳ 1993-2002
Từ 12/10/1992 đổi tên thành Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Đất nước đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện từ sau Đại hội Đảng VI. Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, chúng ta từng bước xây dựng cơ chế quản lý kinh tế cũng như cơ chế quản lý KHCN cho phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế thị trường. Chính sách mở cửa kinh tế với việc công bố Luật Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (1987) nhưng phải đến những năm cuối thập kỷ 80 đầu tư của nước ngoài mới bắt đầu tăng về số lượng, tiền vốn và nhịp độ. Nông nghiệp và nông thôn sau khoán 10 đã có những chuyển biến tích cực trong quản lý và sản xuất, nông dân đã thực sự làm chủ phần ruộng đất của mình, tự tìm tòi các kỹ thuật tiến bộ, các giống cây con mới để ứng dụng vào sản xuất, đẩy mạnh việc sản xuất nông sản hàng hoá.
Nền kinh tế phát triển, đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đi theo đó là việc nhập công nghệ, ký kết và thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Trong lúc mở cửa kinh tế, các doanh nghiệp trong nước phải chấp nhận cuộc cạnh tranh gay gắt với hàng nhập khập khẩu, hàng nhập lậu. Do công nghệ lạc hậu kéo dài trong nhiều năm, khi phát triển nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn, lao đao có cơ sở phải chấp nhận đổ vỡ, phá sản, tình hình đó đã thôi thúc các doanh nghiệp phải nhanh chóng đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm để giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh giành giật thị trường ngay trong nước và thị trường xuất khẩu.
Vấn đề bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề cấp thiết, có tính toàn cầu. Trong nhiều năm qua, chúng ta chưa thật sự quan tâm bảo vệ nên đã phải gánh chịu những hậu quả rất nghiêm trọng: rừng bị chặt phá, đất đai nông nghiệp bị ô nhiễm nặng vì dùng quá mức phân hoá học, thuốc trừ sâu, công nghệ lạc hậu gây ra tình trạng ô nhiễm đất, nguồn nước, không khí kéo theo lũ lụt nghiêm trọng.
Nội dung quản lý hoạt động KHCN trong nền kinh tế thị trường có những thay đổi, đối tượng, phạm vi cũng như nội dung quản lý được mở rộng buộc phải nhanh chóng đổi mới chế độ quản lý, phương thức quản lý, tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước một cách đồng bộ, toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới cơ chế quản lý KHCN trong nền kinh tế thị trường. Việc quản lý Nhà nước về công nghệ và môi trường đã trở nên bức bách, phải có cơ quan quản lý Nhà nước với đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để đảm nhiệm lấy trọng trách này.
Việc thành lập Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường vào giai đoạn đất nước tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới và chuẩn bị bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường lãnh đạo và chỉ đạo sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường. Điều đó một lần nữa xác định rõ tính chất, đối tượng, nội dung quản lý nhà nước của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường trong phạm vi cả nước, tạo nên những vị thế mới để Bộ mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế về mọi mặt trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường đối với các tổ chức quốc tế, các quốc gia và cộng đồng khoa học thế giới.
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá 9 ngày 30-9-1992. Từ ngày 12-10-1992, cơ quan chính thức sử dụng con dấu mới là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Ngày 22-5-1993 Chính phủ mới ban hành Nghị định số 22-CP về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
A.Về chức năng, nhiệm vụ
Chức năng: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tiêu chuẩn hoá, sở hữu công nghiệp và bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước (Điều 1).
Nhiệm vụ và quyền hạn: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước đã ghi ở Chương II Nghị định 15-CP ngày 2 tháng 3 năm 1993 của Chính phủ và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể dưới đây (Điều 2):
1. Về nghiên cứu khoa học:
a- Xây dựng trình Chính phủ các chương trình, dự án nghiên cứu khoa học trọng điểm của Nhà nước, các kế hoạch năm năm và hàng năm về nghiên cứu khoa học, hướng dẫn và kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạchvà dự án sau khi được phê chuẩn;
b- Ban hành quy chế quản lý các chương trình, dự án nghiên cứu khoa học;
c- Hướng dẫn, định hướng cho các ngành, các địa phương, các tổ chức khoa hõcây dựng các chương trình, dự án nghiên cứu khoa học của ngành , địa phương và đơn vị;
d- Tổ chức nghiên cứu về công tác quản lý khoa học, công nghệ , môi trường và chiến lược phát triển khoa học và công nghệ;
2. Về phát triển công nghệ:
a- Xây dựng trình Chính phủ các dự án phát triển công nghểtọng điểm của Nhà nước, các kế hoạch năm năm và hàng năm về phát triển công nghệ;
b- Kiến nghị với Chính phủ danh mục các công nghệ ưu tiên phát triển nhập, hạn chế và đình chỉ nhập;
c-Xây dựng, trình Chính phủ quy chế hoạt động chuyển giao công nghệ , kiểm tra việc thực hiện quy chế đó trong phạm vi cả nước;
- Tổ chức giám định Nhà nước về công nghệ đối với các dự án đầu tư quan trọng theo quy định của Chính phủ. Hướng dẫn các ngành, địa phương trong công tác này.
- Hưỡng dẫn các ngành các địa phương đánh giá trình độ công nghệ;
d- Tham gia việc đánh giá , xét duyệt các quy hoạch phát triển các ngành, địa phương, luận chứng kinh tế - kỹ thuật của những công trình quan trọng;
đ- Xây dựng và ban hành quy chế về quản lý kỹ thuật trong các ngành, các địa phương, kiểm tra việc thực hiện quy chế đó.
3. Về bảo vệ môi trường:
a- Xây dựng, trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các chính sách, quy phạm , tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường.
Tổ chức thực hiện kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền đã được Chính phủ phê duyệt;
b-Tổ chức giám định về yêu cầu bảo vệ Môi trường của các dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trước khi trình Chính phủ quyết định;
c- Hướng dẫn các ngành, địa phương về nghiệp vụ quản lý bảo vệ môi trường. Phối hợp với các đoàn thể nhân dân tổ chức và hướng dẫn các hoạt động quàn chúng bảo vệ môi trường.
4. Về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng:
a-Chủ trì phối hợp các cơ quancó liên quan xây dựng các tiêu chuẩn Việt Nam, hướng dẫn các ngành, địa phương xây dựng tiêu chuẩn ngành, địa phương;
b- Xây dựng và phát triển hệ thống chuẩn đo lường của Việt Nam, quản lý các chuẩn đo lường quốc gia;
c- Hướng dẫn các ngành, địa phương về nghiệp vụ đo lường, kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hoá cho các ngành, địa phương và cơ sở. Phối hợp các ngành liên quan tổ chức công tác đào tạo , bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng;
d- Tổ chức hệ thống kiểm định đo lường Nhà Nước. Thực hiện và hướng dẫn thực hiện việc kiểm định chuẩn đợn vị đo lường và phương tiện đo lường. Công nhận khả năng kiệm định về đo lường của các cơ quan đo lường các cấp, duyệt mẫu trước khi cơ quan có thẩm quyền cho phép xuất nhập khẩu phương tiện đo lường;
đ- Tổ chức đăng ký và cấp giấy chúng nhận đăng ký chất lượng hàng hoá , phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam, công nhận phòng thử nghiệm chất lượng hàng hoá , tổ chức việc kiểm tra Nhà Nước đối với chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu theo quy định của Chinhs phủ.
5. Về sở hữu công nghiệp:
a- Thực hiện các biện pháp về quyền lợi của Nhà Nước trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
b- Tiếp nhận, xem xét đơn yêu cầu bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, cấp văn bằng bảo hộ, giấy phép hoạt động cho người đại diện sở hữu công nghiệp;
c- Xây dựng và tổ chức khai thác có hiệu quả trung tâm thông tin tư liệu về sở hữu công nghiệp. Chọn lọc các sáng kiến, giải pháp hữu ích,sáng chế để kiến nghị áp dụng;
d- Chỉ đạo nghiệp vụ về sở hữu công nghiệpcho các ngành, địa phương, cơ sở.
6. Về quản lý các nguồn lực khoa học, công nghệ:
a- Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức khoa học - công nghệthuộc mọi thành phần kinh tế.
Chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ đối với các cơ quan quản lý khoa học , công nghệ và môi trường của các địa phương;
b- Kiến nghị với Chính phủ , chính sách, phương hướng đào tạo cán bộ khoa họccó trình độ trên đại học, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học- công nghệ , sử dụng hoẹp lý đội ngũ cán bộ khoa học- công nghệ thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả tri thức Việt kiều.
Xây dựng cơ sở dữ liệu về cán bộ khoa học- công nghệ của cả nước. Định kỳ phân tích, đánh giá trình độ cán bộ khoa hỏctong cả nước và đề xuất các chính sách , giải pháp cần thiết.
Tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ quản lý khoa học , công nghệ và môi trường;
c- Kiến nghị với Chính phủ các chính sách, biện pháp khuyến khích tài trợ của các thành phần kinh tế , các tổ chức xã hội và cá nhân cho khoa học , công nghệ và môi trường;
d- Xây dựng quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thông tin tư liệu khoa học , công nghệ và môi trường.
Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động hội nghị, hội thảo, trao đổi tư liệu thông tin khoa học , công nghệ và môi trường.
7. Thực hiện chức năng cơ quan thường trực của Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản.
B- Về tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ chức theo Nghị định 22/CP ngày 22-5-1993 của Chính phủ và được bổ sung sửa đổi theo theo Quyết định số 248-TTg của TTCP ngày 23-4-1996, cụ thể như sau:
- Tổ chức lại Vụ Nghiên cứu - Triển khai, Vụ Phát triển công nghệ thành Vụ Quản lý Khoa học, Vụ Quản lý công nghệ, Văn phòng thẩm định về CN và MT các dự án đầu tư ;
- Đổi tên Vụ Kế hoạch - Tài chính thành Vụ Kế hoạch ;
- Thành lập Vụ Tài chính kế toán, Trường Bồi dưỡng Nghiệp vụ quản lý KHCN&MT ; Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách KHCN trên cơ sở Viện nghiên cứu Dự báo và Chiến lược KHCN và Viện nghiên cứu Quản lý KHCN
Ngày 13-2-1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 35/1998/QĐ-TTg thành lập các vụ sau:
- Vụ Quản lý khoa học và công nghệ Công nghiệp
- Vụ Quản lý khoa học và công nghệ Nông nghiệp
- Vụ Quản lý khoa học Xã hội và Tự nhiên
Trên cơ sở hai Vụ: Quản lý Khoa học, Vụ Quản lý công nghệ.
Năm 1998 tổ chức bộ máy của Bộ có thêm Vụ Pháp chế, Ban Quản lý Dự án Khu công nghệ cao Hoà Lạc.
Tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tính đến 31/12/1998:
Khối quản lý Nhà nước gồm các đơn vị sau:
- Văn phòng Bộ.
- Vụ Tổ chức và Cán bộ khoa học.
- Thanh tra Bộ.
- Vụ Kế hoạch.
- Vụ Tài chính kế toán.
- Vụ Pháp chế.
- Vụ Quan hệ Quốc tế.
- Vụ Quản lý khoa học và công nghệ Công nghiệp.
- Vụ Quản lý khoa học và công nghệ Nông nghiệp.
- Vụ Quản lý khoa học Xã hội và Tự nhiên.
- Ban an toàn bức xạ hạt nhân.
- Văn phòng thẩm định về CN và MT các dự án đầu tư.
- Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản.
- Tổng cục TC- ĐL- CL.
- Cục Sở hữu công nghiệp.
- Cục Môi trường.
Khối sự nghiệp khoa học gồm các đơn vị sau:
- Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ.
- Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
- Viện Nghiên cứu ứng dụng công nghệ.
- Trung tâm Thông tin- Tư liệu khoa học và công nghệ Quốc gia.
- Trường bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý khoa học.
- Báo Khoa học và Phát triển.
Khối Doanh nghiệp Nhà nước gồm các đơn vị sau:
- Công ty Phát triển đầu tư công nghệ ( FPT).
- Công ty xuất nhập khẩu công nghệ mới( NACENIMEX).
- Công ty xuất nhập khẩu khoa học kỹ thuật( TECHNIMEX).
- Công Sở hữu công nghiệp ( INVESTIP).
- Công ty Công nghệ Điện tử, Cơ khí và Môi trường( EMECO).
- Công ty ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ ( MITEC)
- Nhà Xuất bản khoa học và kỹ thuật.
Về cán bộ lãnh đạo Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Chức vụ Bộ trưởng do ông Đặng Hữu đảm nhiệm (4/1982 đến 10/1996), ông Phạm Gia Khiêm (từ 11/1996 đến 9/1997), ông Chu Tuấn Nhạ (từ 10/1997 đến 2002).
C - Những chủ trương và hoạt động chính của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
C.1. Công tác tham mưu
1. Về xây dựng chính sách
Trong giai đoạn 1993-1998, Ban Chấp hành TƯĐ đã họp và ra nhiều nghị quyết có liên quan đến sự phát triển công tác khoa học - công nghệ (Nghị quyết Trung ương 7 khoá VII năm 1994), Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII năm 1996) và Chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường (1998).
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo lấy ý kiến của các Bộ ngành, địa phương, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo, các nhà khoa học để đánh giá thực trạng khoa học, công nghệ và môi trường, đề xuất các chính sách, biện pháp lớn khuyến khích hoạt động KHCN và bảo vệ môi trường. Qua các đợt sinh hoạt này, Bộ đã tranh thủ Hội đồng chính sách KHCN quốc gia bổ sung ý kiến vào Dự thảo văn kiện Hội nghị Trung ương 7, Dự thảo Nghị quyết Trung ương 2 về KHCN, Chỉ thị của Bộ Chính trị về môi trường. Bộ cũng đã tích cực xây dựng các nội dung có liên quan đến hoạt động KHCNMT để bổ sung vào Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng VIII.
Bộ đã chỉ đạo việc nghiên cứu và hoàn chỉnh việc dự thảo các chính sách chất lượng, chính sách công nghệ bao gồm cả việc xác định lộ trình công nghệ của một số ngành trọng điểm, các chính sách phát triển một số ngành công nghệ mũi nhọn (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ tự động hoá)...
Đã nghiên cứu xây dựng Đề án "Chính sách và cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới công nghệ", Dự thảo đã được Chính phủ xem xét cho ý kiến bổ sung để ban han hành.
Bộ cũng đã phối hợp với các Bộ hữu quan tiến hành nghiên cứu xây dựng một số chính sách: Chính sách khuyến khích các cơ sở nghiên cứu, đào tạo tổ chức sản xuất các sản phẩm là kết quả nghiên cứu của mình, Chính sách sử dụng vốn các chương trình kinh tế - xã hội cho nghiên cứu - triển khai để phục vụ cho các chương trình đó, chính sách và chế độ lương và phụ cấp cho cán bộ KHCN về công tác tại vùng sâu, vùng xa, chế độ đối với cán bộ KHCN cao tuổi tiếp tục làm việc...
Ngoài ra theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ KHCXNMT đang phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chế độ khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc trong nước, dự thảo đã được gửi đi lấy ý kiến đóng góp của các bộ ngành liên quan trước khi trình Chính phủ xem xét.
2. Về xây dựng Chiến lược KHCN
Đã thực hiện công trình nghiên cứu đặc biệt theo đặt hàng của Tổng Bí thư về "Việt Nam - con đường phát triển đến năm 2000", chuẩn bị luận cứ khoa học cho việc xây dựng định hướng phát triển của Việt Nam tới năm 2020.
Nghiên cứu chuẩn bị văn bản gửi Tiểu ban văn kiện Hội nghị Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ (tháng 9/1993) gồm: Công nghiệp hoá ở Việt Nam - thực trạng và con đường phát triển; Hoàn thiện hơn nữa quá trình đổi mới để đẩy nhanh sự phát triển đất nước.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 về KHKCN, Quyết định 343/TTg ngày 23/5/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng "Chiến lược phát triển KHCN Việt Nam đến năm 2020", Bộ đã thành lập Ban chỉ đạo quốc gia xây dựng đề án. Ban biên tập đề án đã tổ chức làm việc với các nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế IDRC để xác định nội dung và phương pháp luận xây dưnựg chiến lược. Đồng thời đã tiến hành xây dựng nội dung nghiên cứu, các khung phương pháp luận xây dựng chiến lược phát triển KHCN, thành lập các nhóm làm việc chuyên môn để triển khai công việc.
Ban chỉ đạo đã tổ chức trao đổi thống nhất về phương pháp luận xây dựng và nội dung chiến lược với một số ngành kinh tế - kỹ thuật trọng điểm (dầu khí, cơ khí, xây dựng ...) và một số địa phương. Đến cuối năm 1998, Bộ đã tổ chức nghiệm thu Chiến lược phát triển KHCN một số ngành kinh tế - kỹ thuật trọng điểm, và đã hoàn thành Dự thảo "Chiến lược phát triển KHCN Việt Nam đến năm 2020". Hiện đang tổ chức triển khai xây dựng cụ thể Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn đến 2010.
3. Về xây dựng lộ trình công nghệ
Đã thu thập nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan để hình thành phương pháp luận xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ, hướng dẫn một số Bộ ngành lớn xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ của một số Bộ, ngành và ký hợp đồng với các Bộ này để triển khai công việc: Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản, Tổng cục Bưu điện, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt...
C.2. Công tác kế hoạch KHCN
- Bộ đã tập trung chỉ đạo để kết thúc toàn bộ các chương trình KHCN cấp Nhà nước trong kế hoạch 1991-1995 với kết quả tốt.
- Soạn thảo các "Hướng dẫn xây dựng kế hoạch KHCN&MT 5 năm 1996-2000" cho các bộ ngành và địa phương, đồng thời tổ chức các Hội đồng chuyên gia để tư vấn cho việc xây dựng các chương trình KHCN cấp Nhà nước.
- Bộ đã cụ thể hoá các hướng KHCN ưu tiên thành các hướng nghiên cứu cụ thể để hướng dẫn các bộ, ngành xây dựng các đề tài cụ thể của bộ ngành như: chương trình công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, chế tạo máy và tự động hoá, phát triển năng lượng, phát triển nông nghiệp, tài nguyên và bảo vệ môi trường, điều tra nghiên cứu biển, y tế và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, nghiên cứu những nội dung thiết yếu của khoa học xã hội và nhân văn.
- Xây dựng phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu và các nội dung cụ thể của hoạt động KHCN&MT trong kế hoạch 5 năm 1996-2000, xây dựng các chương trình KHCN 5 năm và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành chính thưc (11 chương trình KHCN, 7 chương trình KHXH).
- Về quản lý các dự án sản xuất thử-thử nghiệm, Bộ đã ban hành Qui định về những nguyên tắc xét duyệt dự án SXT-TN, đồng thời soạn thảo một qui trình nội bộ về quản lý các dự án nhằm có cơ sở khoa học để lựa chọn các dự án ưu tiên và đưa ra cơ chế buộc các đơn vị trực thuộc Bộ thực hiện nghĩa vụ nộp kinh phí thu hồi với mức thu hồi đã định. Qua việc thực hiện các dự án SXT-TN đã khẳng định được một số công nghệ, xây dựng được nhiều pilot, dây chuyền mẫu, dây chuyền sản xuất mới, mở ra khả năng sản xuấtnhiều sản phẩm mới, tạo việc làm cho nhiều lao động. Nhờ việc triển khai các dự án SXT-TN đã tạo ra được một số ngành kinh tế-kỹ thuật mới ở nước ta như: vật liệu nổ, nuôi tôm biển, hình thành từng bước những ngành liên quan đến công nghệ sinh học như ngành trồng nấm, sản xuất vác xin..., duy trì phát triển một số nghề truyền thống, tận dụng được thế mạnh về tiềm năng tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý thuận lợi của vùng nhiệt đới và nguồn nhân lực dồi dào, nguyên liệu tại chỗ.
Một công việc được Lãnh đạo Bộ quan tâm chỉ đạo là triển khai nghiên cứu Dự thảo Nghị định của Chính phủ về công tác kế hoạch hoá KHCN, hiện đang được tổ chức thảo luận với các bộ ngành, một số địa phương cũng như với các doanh nghiệp lớn để trình Chính phủ xem xét trong thời gian tới.
C.3. Công tác quản lý Nhà nước về KHCNMT
1. Tiêu chuẩn-đo lường- chất lượng
Tiếp tục kiện toàn và ổn định từng bước hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước và hoạt động sự nghiệp kỹ thuật phục vụ quản lý Nhà nước. Đã tập trung xây dựng các chính sách, cơ chế quản lý vĩ mô để tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hoá. Trình Thủ tướng Chính phủ Chính sách chất lượng thập niên 1996-2005.
Cùng với các Bộ, ngành xây dựng các dự án nâng cao chất lượng các sản phẩm xuất khẩu có giá trị lớn như: dầu khí, gạo,. cao su, cà phê, hàng da, hàng may mặc, thuỷ sản...
Tổ chức Hội nghị chất lượng toàn quốc lần thứ nhất nhằm phát động phong trào chất lượng trong cả nước, nâng cao nhận thức và dân trí.
Xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định 86/CP ngày 8-12-1995, Nghị định 57/CP ngày 31-5-1997 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa, Qui định về kiểm tra, đánh giá, công nhận các tổ chức giám định chất lượng, Phối hợp với các Bộ Thương mại, Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Y tế, Xây dựng nghiên cứu xây dựng ban hành các thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định 86/CP của Chính phủ.
Triển khai Hiệp định bảo đảm chất lượng hàng hoá và công nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ban hành các Quyết định về công tác công nhận và chứng nhận, Quyết định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hoá.
Triển khai hoạt động TCĐLCL theo hướng hoà nhập với các hoạt động quốc tế: tổ chức hội nghị Ban CH của Tổ chức Chất lượng châu á - Thái Bình Dương tại Hà Nội; thực hiện nhiệm vụ đối ngoại trong các hoạt động tiêu chuẩn và chất lượng ACOSQ - ASEAN; xây dựng các qui trình công nhận và chứng nhận đói với các tổ chức giám định, các phòng thử nghiệm, hệ thống đảm bảo chất lượng theo ISO 9000.Q.Base: qui định việc ghi nhãn thực phẩm bao gói sẵn...
Thực hiện kiểm tra hàng chục ngàn lô hàng nhập khẩu phục vụ quản lý chất lượng.
Tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh Đo lường, Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá và 10 năm đổi mới quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng (tại Hà Nội và thành phố HCM). Nghiên cứu đề xuất việc sửa đổi 2 Pháp lệnh trê cho phù hợp với qui định của Bộ luật Dân sự. Dự thảo Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng trình Chính phủ xem xét; soạn thảo qui chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
Phối hợp với Tổng cục Hải quan trong việc quản lý chất lượng hàng hoá nhập khẩu phải qua kiểm tra Nhà nước về chất lượng.
Thường xuyên làm việc với các cơ quan, tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng: ISO, IEC, OIML, CODEX, APLAC, APO, AOQO, ACCSQ. tham gia xây dựng Danh mục các mặt hàng thống nhất tiêu chuẩn trong ASEAN. Triển khai xây dựng chương trình hợp tác với Nhật Bản - JICA.
Công tác tiêu chuẩn hoá được cải tiến: hình thành các Ban Kỹ thuật với sự tham gia của các Bộ, ngành trong lĩnh vực tương ứng phù hợp với tập quán quốc tế. Ban hành nhiều TCVN trong đó có 71 TCVN về môi trường. Khai thác có hiệu quả và cung cấp đầy đủ thông tin về các tiêu chuẩn ISO, CODEX, IEC và cuả các nước như Đức, Mỹ, Nhật; phát hành các ấn phẩm thông tin về TCĐLCL.
Xây dựng đề án phát triển đo lường Việt Nam đến năm 2000.
Thực hiện các dự án nghiên cứu mở rộng năng lực đo lường thử nghiệm, tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho 7 Phòng đo lường và các Chi cục TCĐLCL, các trạm kiểm tra hàng hoá xuất nhập tại các cửa khẩu.
2. Sở hữu công nghiệp
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa páht triển mạnh mẽ, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng, quan hệ kinh tế-thương mại với các nước và tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng đã đặt ra cho hoạt động sở hữu công nghiệp những vấn đề mới cần giải quyết để đáp ứng nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày càng tăng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Từ ngày 8-6-1993 Cục Sáng chế được chính thức đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Trong giai đoạn này, một công tác trọng tâm của công tác quản lý Nhà nước về sở hữu công nghiệp là tập trung nghiên cứu soạn thảo chương Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong Dự án Bộ luật Dân sự, góp ý kiến về chương bản quyền tác giả do Bộ Văn hoá-Thông tin đảm nhiệm.
Ngày 28-10-1995 Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội thông qua, trong Phần VI, có Chương 2 - Quyền sở hữu công nghiệp gồm 26 điều khoản qui định những nguyên tắc cơ bản nhằm xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Việc ban hành Bộ luật Dân sự với chương Quyền sở hữu công nghiệp và Nghị định 63/CP của Chính phủ, Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 6-3-1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp cùng các văn bản hướng dẫn (Thông tư 3055/TT-BKHCNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định 63/CP, Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí sở hữu công nghiệp) kèm theo là sự kiện quan trọng mở ra một chương mới đối với sự phát triển hoạt động sở hữu công nghiệp ở Việt Nam và đánh dấu một bước hoàn thiện mới trong hệ thống văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp.
Để mở rộng các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của kinh tế thị trường và yêu cầu gia nhập các tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Cục Sở hữu công nghiệp xúc tiến việc nghiên cứu soạn thảo các nghị định của Chính phủ về chống cạnh tranh không làn mạnh, về bảo hộ thông tin bí mật, về chỉ dẫn nguồn gốc địa lý hành hoá, về bảo vệ mạch tích hợp..., và đã phói hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao soạn thảo thông tư liên tịch về việc áp dụng luật trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, phối hợp với Tổng cục Hải quan soạn thảo thông tư liên tịch về các biện pháp biên giới về sở hữu công nghiệp đôí với hàng hoá xuất nhập khẩu.
Đồng thời với việc nghiên cứu xây dựng khung pháp lý, Cục SHCN đã tổ chức nhiều hình thức phổ biến quán triệt hệ thống văn bản pháp luật về SHCN cho đông đảo đội ngũ cán bộ quản lý các ngành, địa phương qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý do Trường Nghiệp vụ quản lý và Cục SHCN tổ chức (khoảng 1500 người).
Tính chung giai đoạn 1981-1998, Cục SHCN đã nhận được 53.876 đơn yêu cầu cấp bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (đã cấp 34.843 văn bằng bảo hộ), trong đó có 5.335 đơn sáng chế (đã cấp 769 Bằng sáng chế), 529 đơn giải pháp hữu ích (đã cấp 205 Bằng độc quyền), 8.029 đơn kiểu dáng công nghiệp (đã cấp 4.672 bằng độc quyền), 39.973 đơn nhãn hiệu hàng hoá (đã cấp 29.197 giấy chứng nhận) và 5 đơn yêu cầu bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngoài ra trong mấy năm qua, Cục SHCN cũng đã xét và chấp nhận bảo hộ khoảng 48.000 nhãn hiệu hàng hoá của các hãng, các công ty nước ngoài tại Việt Nam theo Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá.
Chỉ tính riêng từ 1990 đến 1998, Cục Sở hữu công nghiệp đã nhận được 725 đơn đăng ký Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng, 261 đơn đăng ký Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng công nghiệp và 135 Giấy chứng nhận Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng công nghiệp.
Cùng với sự gia tăng số lượng đơn đăng ký và số văn bằng bảo hộ, số lượng các vụ tranh chấp, vi phạm quyền sở hữu công nghiệp ngày càng nhiều. Chỉ tính riêng 5 năm từ 1993-1998, Cục Sở hữu công nghiệp đã tiếp nhận và xử lý 697 đơn khiếu nại về vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, một số vụ đã được đưa ra xét xử ở toà án các cấp.
Việc thu phí và lệ phí tuy không phải là mục đích của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nhưng khoản thu này một năm một tăng. Nừu như năm 1993 nộp ngân sách nhà nước khoảng 9,6 tỷ đồng thì đến năm 1998 con số đó là 18,15 tỷ đồng.
Trong lĩnh vực thông tin, tư liệu sở hữu công nghiệp (SHCN), từ 1993 đến nay Cục SHCN đã đẩy mạnh việc thu thập, xử lý, lưu trữ và khai thác các tư liệu SHCN phục vụ cho công tác xét nghiệm nội dung các đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ và phục vụ cho công tác nghiên cứu - triển khai, phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các tổ chức và cá nhân trong nước.
Xây dựng được cơ sở dữ liệu lớn về sở hữu công nghiệp phục vụ công tác xét nghiệm đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp và hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, thương mại. Hiện nay ở Việt Nam có 3 trung tâm thông tin sáng chế đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm hơn 19 triệu bản mô tả sáng chế dạng giấy, đĩa quang, vi phim, vi phiếu của 27 nước và tổ chức quốc tế, hàng chục nghìn Công báo SHCN của các nước và tổ chức quốc tế cùng hàng chục triệu bản tóm tắt sáng chế kèm theo các thông tin như thư mục phục vụ cho việc tra cứu sáng chế. Hiện nay trung bình hàng năm Cục SHCN tiếp nhận khoảng 1 triệu Bản mô tả sáng chế, hàng nghìn Công báo SHCN, chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển.
Tính từ 1992 đến 1998 đã có 10.952 lượt người đến tra cứu tư liệu SHCN tại Cục SHCN, hàng nghìn yêu cầu tra cứu đã được thực hiện và hàng chục nghìn Bản mô tả sáng chế đã được sao chụp cung cấp cho các tổ chức, cá nhân ở mọi niền đất nước. Nhưng có tình hình là số lượng người khai thác thông tin sáng chế còn quá ít so với năng lực của kho tư liệu thông tin patent và so với nhu cầu thực tiễn hoạt động nghiên cứu - triển khai và đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
Để công bố các đối tượng sở hữu công nghiệp đã nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ đã cấp theo qui định của pháp luật. Cục SHCN đã ấn hành 130 số Công báo SHCN, 974 Bản mô tả sáng chế, giải pháp hữu ích. Các tài liệu nói trên đều được gửi tới các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và trao đổi với cơ quan SHCN các nước, các tổ chức quốc tế.
Đã duy trì và phát triển mói quan hệ với Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO tham gia tích cực các hoạt động của tổ chức này, tiếp tục triển khai việc hợp tác với Pháp, Thái Lan, EU và Mỹ và đã nhận được sự tài trợ của một số nước về tư liệu, đào tạo cán bộ, thực hiện các dự án trợ giúp kỹ thuật... Tiếp tục mở thêm các mối quan hệ với Australia, với cơ quan patent và nhãn hàng của Mỹ, khoi phục quan hệ về SHCN với Nga, tiếp và làm việc vơi hơn 100 đoàn khác quốc tế đến tìm hiểu hệ thống quản lý sở hữu trí tuệ sở hữu công nghiệp của Việt Nam; tham gia tích cực các hoạt động về SHTT của ASEAN tiến tới ký Hiệp định khung của ASEAN về sở hữu trí tuệ.
Bộ đã đầu tư mua các dữ liệu patent của Anh, EPO, Đức, Mỹ, ấn hành trong các năm 1989 đến 1993 dưới dạng CD-ROM, mở rộng khả năng trao đổi các dữ liệu thư mục và tình trạng pháp lý về SHCN giữa Việt Nam và EPO và Cơ quan patent và nhãn hàng của Mỹ
3. Bảo vệ môi trường
- Sau khi Quốc hội công bộ Luật Bảo vệ môi trường, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã trình Chính phủ, tự mình hoặc phối hợp với các bộ liên quan ban hành khá nhiều văn bản pháp qui để thi hành Luật BVMT (Nghị định 175/CP hướng dẫn thi hành Luatạ BVMT, Nghị định 26/CP về xử phạt vi phạm hành chính về BVMT, Chỉ thị 200/TTg ngày 29-4-1994 của Thủ tướng Chính phủ về bảo dảm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Quyết định số 845/TTg ngày 22-12-1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam", Thông tư 490/1998 của Bộ KHCNMT về hướng dẫn đánh goía tác động môi trường các dự án đầu tư...), từng bước hình thành một hệ thống các văn bản pháp lý cần thiết để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (BVMT và PTBV).
- Tổ chức xây dựng các chính sách, các giải pháp quản lý hữu hiệu môi trường nhằm kết hợp hài hoà và có hiệu quả phát triển kinh tée và bảo vệ môi trường. Đã nghiên cứu trình và Bộ Chính trị (khoá VIII) đã ban hành Chỉ thị 36 về Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tháng 9 năm 1998 đã tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt và thống nhất kế hoạch thực hiện Chỉ thị 36 của Bộ Chính trị.
- Từng bước xây dựng và phát triển hệ thống quan trắc và phân tích môi trường, đến nay đã có 18 trạm quan trắc và phân tích môi trường đi vào hoạt động ổn định. Hàng năm đã xây dựng Báo cáo hiện trạng môi trường trình Quốc hội vào kỳ họp cuối năm.
- Tổ chức thẩm định các Báo cáo đánh giá tác động môi trường , phối hợp với các Bộ ngành, địa phương phê duyệt dự án làm tiền đề phòng ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường. Tính đến hết năm 1998, tổng số các Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) lên đến hàng ngàn, trong đó Cục Môi trường được Bộ uỷ quyền tổ chức thẩm định gần 500 báo cáo ĐTM.
- Xây dựng các phương án và tổ chức thực hiện các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và khắc phục sự cố môi trường. Đã nghiên cứu qui hoạch xây dựng các bãi thải, các lò đốt rác y tế, chất độc hại với việc xây dựng các các phương án khắc phục sự cố môi trường, trong đó có việc xây dựng Kế hoạch quốc gia về sự cố tràn dầu, v.v... Nổi bật nhất là việc đấu tranh bắt các tổ chức nước ngoài bồi thường thiệt hại về môi trường do sự cố gây ra như vụ Cát Lái (4,2 triệu USD), Cần Giờ (2 triệu USD), VEDAN (15 tỷ đồng), v.v... trong đó có việc nghiên cứu tìm giải pháp đòi Mỹ bồi thường hậu quả chiến tranh hoá học ở Việt Nam.
- Tổ chức các đợt thanh tra chuyên đề mở rộng, thanh tra định kỳ, đột xuất việc chấp hành các qui định của Luật BVMT đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn môi trường làm công cụ thực hiện quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường có hiệu quả gồm 71 bộ tiêu chuẩn chất lượng môi trường, tiêu chuẩn thải cho các ngành công nghiệp, v.v...
Tổ chức các chiến dịch tuyên truyền nâng cao nhận thức về mô trường. Xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình về môi trường, đưa việc tuyên truyền bảo vệ môi trường thành nội dung thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Mở rộng hợp tác với các nước và các tổ chức quóc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hàng năm có hàng trăm lượt cán bộ trong và ngoài Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tham dự các hội thảo, hội nghị, các lớp tập huấn về môi trường ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Cục Môi trường tổ chức tiếp nhận và thực hiện hàng loạt dự án về môi trường như dự án SIDA/IUCN, dự án VCEP, dự án SEMA, dự án của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu á, UNDP, UNEP, v.v... Quan hệ với các tổ chức quốc tế như UNEP, UNIDO, UNDP, WWF, IUCN, WB, ADB, GEF, v.v... ngày càng phát triển và có hiệu quả cao. Bên cạnh đó Cục Môi trường cũng đã phát triển tốt mối quan hệ với các cơ quan môi trường của các nước như Thuỵ Điển, Canada, ôxtrâylia, Đan Mạch, Hà Lan, Nhật Bản, v.v...và tận dụng khả năng có thể cho công tác bảo vệ môi trường.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường làm cơ sở và tư liệu tham khảo phục vụ công tác quản lý và nghiên cứu môi trường. Tổ chức tiếp nhận và nối mạng UNEPnet cho các đơn vị quản lý môi trường và liên quan đến môi trường ở các Bộ, ngành, các địa phương. Tổ chức xây dựng trang Web điện tử về môi trường trên mạng UNEPnet và hoà mạng INTERNET. Bước đầu xây dựng một số cơ sở dữ liệu, tư liệu, cơ sở thông tin địa lý (GIS) phục vụ công tác quản lý và giám sát môi trường như sơ đồ các khu bảo tồn Việt Nam, Sơ đồ vùng nhậy cảm môi trường, v.v...
- Tổ chức xây dựng các chương trình, giải pháp quản lý phù hợp như Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học, các giải pháp quản lý hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái rừng đầu nguồn, hệ sinh thái biển, v.v... Tổ chức thực hiện các Công ước quốc tế về Đa dạng sinh học mà Việt Nam tham gia ký kết và phê chuẩn như Công ước đa dạng sinh học, Công ước CITES, Công ước RAMSAR, v.v...
- Xuất bản Bản tin Bảo vệ môi trường phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật và trao đổi kinh nghiệm công tác bảo vệ môi trường. Sau 5 năm phát hành bản tin Bảo vệ môi trường với 30 số thường kỳ và 2 số đặc biệt, đến nay đã được phép nâng lên thành tạp chí Bảo vệ môi trường.
4. Xét duyệt trữ lượng khoáng sản
Hoạt động xét duyệt trữ lượng khoáng sản đã được tieưén hành từ những năm đầu thập kỷ 70, nhưng trong giai đoạn 1993 đến nay với việc hoàn thiện từng bước hệ thống pháp luật đã được Nhà nước quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để triển khai công việc.
Sau khi Luật Khoáng sản được công bố ngày 20-3-1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 181/TTg ngày 26-3-1997 thành lập lại Hội đồng Đáng giá trữ lượng khoáng sản trên co sở Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản.
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã triển khai các công việc quan trọng sau:
- Thẩm định, xét duyệt các các báo cáo địa chất thăm dò để tính trữ lượng khoáng san;
- Phê duyệt trữ lượng khoáng sản đối với các báo cáo địa chất.
- Thống kê trữ lượng khoáng sản.
- Xây dựng tiêu chuẩn về phân cấp trữ lượng khoáng sản.
- Xét duyệt và công nhậncác chỉ tiêu tính trữ lượng khoáng sản.
Tính đến cuối năm 1998 (1970-1998), đã tổ chức kiểm tra, xét duyệt 465 báo cáo địa chất thăm dò tính trữ lượng đối với 42 loại khoáng sản khác nhau. Đã có 262 báo cáo thăm dò được sử dụng để thiết kế và khai thác. Trong đó có những khoáng sản giữ vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển nền kinh tế của nước ta.
5. Thẩm định công nghệ và môi trường các dự án đầu tư, xem xét các hợp đồng chuyển giao công nghệ
Công tác thẩm định công nghệ và xem xét các hợp đồng chuyển giao công nghệ trong các dự án đầu tư đã được thực hiện từ đầu những năm 90, nhưng sau khi thành lập Văn phòng thẩm định công nghệ các dự án đầu tư (1996), công việc này mới đi vào nền nếp.
Tính đến tháng 7/1997 đã có 2137 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, trong đó có khoảng 70% dự án có nội dung chuyển giao công nghệ hoặc có sản xuất sản phẩm mới, nhưng chỉ có 4% tổng số các dự án có hợp đồng chuyển giao công nghệ được trình Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường để xin phê duyệt theo qui định của pháp luật. Cho đến nay trong 71 hợp đồng chuyển giao công nghệ được gửi đến Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, có 52 hợp đồng đã được phê duyệt với tổng giá trị trên 130 triệu USD, bao gồm các lĩnh vực điện tử, luyện kim, vật liệu xây dưnựg, hoá chất, ô tô, thực phẩm, mỹ phẩm.....
Về công tác thẩm định công nghệ đối với các dự án đầu tư, Bộ KHCNMT đã thực hiện nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước, tất các dự án đầu tư phải qua Bộ KHCNMT tiến hành thẩm định về công nghệ và cho ý kiến nhất trí thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới xem xét tiếp các nội dung khác trước khi chấp thuận cấp Giấy phép đầu tư. Kết quả sự phối hợp công tác này, Bộ KHCNMT đã ngăn chặn được nhiều công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ nhập vào Việt Nam thông qua việc đầu tư nước ngoài.
C.4. Công tác xây dựng pháp luật
1. Xây dựng các đạo luật và pháp lệnh
- Bộ luật Dân sự
Sau nhiều lần dự thảo, lấy ý kiến, Bộ đã hoàn thành bản dự thảo lần cuối về Quyền sở hữu công nghiệp và Chuyển giao công nghệ. Dự thảo đã được đưa vào Dự án Bộ luật Dân sự và đã được Quộc hội thông qua (10-1995), hai nội dung trên trở thành Chương 2 - Quyền sở hữu công nghiệp và Chương 3 - Chuyển giao công nghệ trong Phần VI của Bộ luật Dân sự, bắt đầu có hiệu lực từ 1-7-1996.
- Luật Bảo vệ môi trường
Việc nghiên cứu soạn thảo Luật Bảo vệ môi trường đã được triển khai từ những năm cuối thập kỹ 80. Trong quá trình nghiên cứu soạn thảo Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đã tổ chức thu thập và nghiên cứu Luật môi trường của nhiều nước trên thế giới và căn cứ vào thực tiễn công tác bảo vệ môi trường của Việt Nam để hình thành Dự thảo. Bản dự thảo đã được sự góp ý của đông đảo đội ngũ cán bộ KHCN qua các hội thảo, trực tiếp trao đổi, và cũng đã được "Hội nghị khoa học quốc tế về môi trường" đầu tiên ở nước ta, được UNDP tài trợ (tháng 12 năm 1991 đã góp ý kiến cho bản dự thảo đầu tiên của Luật Bảo vệ môi trường. Uỷ ban cũng đã tổ chức nhiều đợt đi công tác về các địa phưpng để trực tiếp xin ý kiến của một số đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để chỉnh lý, hoàn thiện và đã được Chính phủ trình Quốc hội thông qua (tháng 12/1993) và bắt đầu có hiệu lực từ 1-1-1994.
- Luật khoa học và công nghệ
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã tổ chức nhiều hội nghị và trên 10 hội thảo khoa học tại 3 miền đất nước, gửi lấy ý hơn 500 địa chỉ, đến nay dự thảo luật đã hoàn thiện và được Chính phủ quyết định trình Quốc hội Khoá X xem xét cho ý kiến trong trong kỳ họp lần thứ năm, tháng 5-6/1999. Yêu cầu đối với Luật khoa học và công nghệ và các văn bản sau Luật là phải tạo lập được môi trường pháp lý quan trọng nhất phù hợp với đặc điểm của các quan hệ trong việc tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ. Vì vậy, Luật khoa học và công nghệ quy định Nhà nước khuyến khích và bảo hộ các hoạt động khoa học và công nghệ nhằm đảm bảo quyền tự do sáng tạo trong hoạt động khoa học công nghệ phù hợp với lợi ích của Nhà nước Việt Nam và lợi ích của nhân dân, đồng thời quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động khoa học và công nghệ, quy định điều chỉnh của quan hệ xã hội cụ thể, đặc biệt là quyền, nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân cũng như nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ, cơ quan quản lý Nhà nước về các hoạt động khoa học và công nghệ, của các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố.
Đồng thời với việc nghiên cứu xây dựng dự án Luật KHCN, còn triển khia nghiên cứu soạn thảo một số Dự thảo nghị định của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật KHCN để trình Chính phủ ban hành sau khi Luật KHCN được Quốc hội thông qua.
- Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ đã được Uỷ ban Thường vụ quốc hội thông qua tháng 6/1996.
- Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được Uỷ ban Thường vụ quốc hội thông qua tháng 5/1999.
- Đã nghiên cứu việc bổ sung sửa đổi một số điều trong hai Pháp lệnh Đo lường, Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá cho phù hợp với yêu cầu của việc quản lý đo lường, chất lượng hàng hoá trong tình hình mới.
2. Xây dựng các văn bản dưới luật
Giai đoạn 1993 đến 1998, Bộ đã tập trung lực lượng nghiên cứu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị về công tác KHCNMT, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng đã phói hợp với các Bộ hữu quan ban hành các Thông tư liên bộ và tự ban hành nhiều quyết định, thông tư, chỉ thị để triển khai thực hiện các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Sau đây là một số văn bản chủ yếu do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, (không kể các văn bản do liên Bộ và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành):
1993
Chỉ thị số 73-TTg ngày 25/2/1993 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác cần làm ngay để bảo vệ môi trường.
Nghị định số 22-CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy cuả Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Nghị định số 23-CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ về việc thành lập Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia.
Chỉ thị số 280-TTg ngày 12/6/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp nhận người nước ngoài đến nghiên cứu khoa học và học tập tại Việt Nam.
Quyết định số 567-TTg ngày 18/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế sử dụng chuyên gia, trí thức là người Việt nam định cư ở nước ngoài tham gia tư vấn cho các cơ quan của Chính phủ trong một số lĩnh vực công tác.
1994
Nghị quyết số 18/CP ngày 11/3/1994 của Chính phủ về phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2010.
Chỉ thị số 200/TTg ngày 29/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường cho nông thôn.
Nghị định số 175/CP ngày 18 -10-1994 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
1995
Quyết định số 415-TTg ngày 15-7-1995 của của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ
Quyết định số 419/TTg ngày 21-7-1995 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Nghị định số 86/CP ngày 8-12-1995 của Chính phủ quy định phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hóa
1996
Nghị định số 26/CP ngày 26-4-1996 của Chính phủ "quy định về xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường"
Quyết định 363-TTg ngày 30-5-1996 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 5 năm 1996-2000
Quyết định số 716-TTg ngày 30-9-1996 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ giai đoạn 1996-2000
Quyết định số 782/TTg ngày 24-10-1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai khoa học và công nghệ.
Nghị định số 63/CP ngày 24-10-1996 của Chính phủ Quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
1997
Quyết định 181-TTg 26-3-1997 về thành lập Hội đồng đánh giá trử lượng khoáng sản
Quyết định số 343-TTg ngày 23-5-1997 của Chính phủ về xây dựng chiến lược phát triển khoa học công nghệ Việt Nam đến năm 2020
Nghị định số 57/CP ngày 31-5-1997 của Chính phủ qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa
Quyết định số 666-TTg ngày 21-8-1997 của Thủ tướng Chính phủ về danh sách các thành viên Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ
1998
Quyết định số 68/1998/QĐ-TTg ngày 27-3-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu
Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1-7-1998 của Chính phủ Qui định chi tiết về chuyển giao công nghệ
Nghị định số 50/1998/NĐ-CP ngày 16-7-1998 của Chính phủ qui định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ
Quyết định số 132/1998/QĐ-TTg ngày 21-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao nhiệm vụ thực hiện Chương trình xây dựng mô hình ứng dựng KHCN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 1998 - 2002
1999
Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6-3-1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (tháng 5/1999).
C.5. Thanh tra khoa học, công nghệ và môi trường
Thời kỳ 1993-1998, công tác thanh tra khoa học, công nghệ và môi trường đã được triển khai trên các mặt xây dựng tổ chức từ Thanh tra Bộ đến Thanh tra các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và thanh tra về bảo vệ môi trường. Thanh tra Bộ đã kết hợp với Trường Nghiệp vụ Quản lý tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra khoa học, công nghệ và môi trường cho đội ngũ cán bộ thanh tra của các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Ngoài việc thanh tra thường xuyên việc chấp hành pháp luật về hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường trong các ngành, địa phương, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã có Chỉ thị thực hiện các cuộc thanh tra diện rộng về môi trường và đo lường, chất lượng hàng hoá.
Thực hiện Chỉ thị số 513/VP ngày 6-5-1997 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc thanh tra diện rộng về BVMT, trong tháng 6/1997 Bộ đã tổ chức 3 lớp tập huấn cho 350 cán bộ là lực lượng chính để tiến hành thanh tra ở các cơ sở trong tháng 7/1997.
Kết quả đã thanh tra 9.384 cơ sở, đạt 138% chỉ tiêu kế hoạch đề ra (dự định 6.000 cơ sở). Số cơ sở đã bị xử phạt là 4.390 cơ sở chiếm 47% số cơ sở đã thanh tra trong đó phạt cảnh cáo là 2.175 cơ sở, phạt tiền là 2.215 cơ sở với số tiền phát 1.566.810.000 đồng trong đó có cơ sở bị phạt cao nhất là 15.000.000 đồng.
Kết quả nhiều cơ sở bị xử phạt đã chấp hành các quyết định, các cơ sở này đã triển khai ngay việc lập các báo cáo đánh giá tác động môi trường, đầu tư xử lý chất thải, thực thi các biện pháp phòng chống ô nhiễm môi trường.
Ngày 14/3/1993 Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ban hành Chỉ thị số 263/1998/CT-BKHCNMT về cuộc thanh tra diện rộng về đo lường và chất lượng hàng hoá.
Bộ đã tổ chức 2 lớp tập huấn nghiệp vụ thanh tra về đo lường và chất lượng hàng hoá cho 340 cán bộ gồm Lãnh đạo Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường , lãnh đạo Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng và cán bộ thanh tra thuộc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường của 61 tỉnh, thành phố.
Đã thành lập 6 đoàn thanh tra cấp Bộ, 110 đoàn thanh tra cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp thanh tra ở các cơ sở.
Kết quả đã thanh tra về đo lường và chất lượng hàng hoá ở 7.133 cơ sở, đạt 133% chỉ tiêu kế hoạch (dự định 5.321 cơ sở). Kết quả xử phạt vi phạm hành chính về đo lường và chất lượng hàng hoá là 2.361 cơ sở chiếm 33,1% so với tổng cơ sở đã thanh tra, phạt cảnh cáo 1.004 cơ sở, phạt tiền 1.357 cơ sở với tổng số tiền phạt là 1.144.300.000 đồng.
Cuộc thanh tra diện rộng về đo lường và chất lượng hàng hoá đã giúp cho Bộ nắm vững việc thi hành pháp luật về đo lường và chất lượng hàng hoá ở các bộ ngành và địa phương và có kế hoạch để kiện toàn tổ chức, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ thanh tra của ngành, địa phương và khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan.
C.6. Thông tin tư liệu KHCN
Đã tập trung phục vụ thông tin cho các chương trình kinh tế - xã hội đã được Đảng VIII thông qua, 11 chương trình KHCN và 7 chương trình KHXH đã được Thủ tướng phê duyệt, sử dụng có hiệu quả nguồn tài liệu nhập từ nước ngoài, mở rộng trao đổi quốc tế và thu thập các nguồn tin trong nước; thực hiện có kết quả việc chia sẻ và phối hợp khai thác các nguồn tư liệu, chuyển giao các nguồn tư liệu thông tin đã được tin học hoá và tích hợp (bao gồm cả các cơ sở dữ liệu nước ngoài trên CD-ROM); triển khai việc nâng cấp và mở rộg mạng thông tin kinh tế, KHCN&MT Việt Nam (VESTENET); thực hiện các biện pháp nhằm chuẩn bị điều kiện để lĩnh vực thông tin KHCN Việt Nam hội nhập với các nước ASEAN và khu vực.
Đã thực hiện nối mạng với 100 cơ quan thông tin ngành và địa phương để tạo điều kiện sử dụng các cơ sở dữ liệu on-line và off-line do Trung tâm Thông tin tư liệu KHCN quốc gia tạo lập hay thu thập được.
Mở rộng việc quan hệ với các đối tác nước ngoài (tổ chức SIDA/SAREC và các tổ chức quốc tế khác) để nhậ được sự hỗ trợ trong việc cung cấp tài liệu và khẩn trương tìm phương án tối ưu mua cơ sở dữ liệu VENDOR (catalo công nghiệp) trên CD-ROM phục vụ thông tin công nghệ.
Nhiều thông tin đã phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng chiến lược và chính sách của Đảng và Nhà nước như soạn thảo Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VII - 1994), nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII - 1996), thông tin phục vụ việc nghiên cứu cải cách hành chính của Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII).
Đã xây dựng được kho dữ liệu về thành tựu KHCN, trình độ công nghệ của sản xuất và sản phẩm, chuyển giao công nghệ, đầu tư và phân bổ tài chính, tiềm lực cán bộ KHCN, các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực KHCNMT, cơ sở vật chất các cơ quan nghiên cứu-triển khai và các nội dung hoạt động khác của các bộ ngành, địa phương. Đang tiếp tục hoàn thiện Mạng thông tin KHCN tự động hoá quốc gia đến các thành phố lớn và một số tỉnh, tiến tới vận hành mạng thông tin với tất cả các tỉnh trong nước với chất lượng cao.
Xây dựng và triển khai trung tâm cung cấp dịch vụ Internet về KHCNMT tại Trung tâm Thông tin tư liệu KHCN quốc gia, tiến tơi triển khai các dịch vụ Internet ở các ngành và các địa phương trọng điểm.
Đã xuất bản thêm một số bản tin quan trọng: "Chiến lược phát triển Khoa học - Kinh tế - Kỹ thuật", "Chuyển giao công nghệ và Đầu tư", "Thành tựu KHCN", "Môi trường", "Khoa học, Công nghệ và Môi trường". Hoàn thành 10 báo cáo quốc gia về chính trị- kinh tế-xã hội của các nước châu á, như Nhật Bản, Philippin, ấn Độ, Xingapo, Thái Lan... Ban hành 11 tập thông tin về đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch trung, dài hạn, các biện pháp lớn phát triển KHCN của các nước trong khu vực và thế giới phục vụ cho việc nghiên cứu soạn thảo nghị quyết Trung ương 2.
Đã hoàn thành việc biên soạn và xuất bản sách 50 năm KHCN Việt Nam.
C.7. Hợp tác quốc tế về KHCN
Từ năm 1991 đến nay chấm dứt một nguồn tài trợ quan trọng và làm gián đoạn quan hệ hợp tác khoa học và công nghệ truyền thống và chủ yếu của nước ta trước đây. Trong bối cảnh mới chúng ta đã có sự điều chỉnh và chuyển đổi theo hướng đa dạng và đa phương hoá quan hệ với các nước. Một mặt cố gắng duy trì và phát triển các mối quan hệ đã có, mặt khác tranh thủ mọi cơ hội hình thành những khả năng và khuôn khổ hợp tác mới. Chúng ta chủ trương phải kết hợp chặt chẽ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với hợp tác kinh tế để nhập khẩu được nhiều công nghệ tiên tiến, thích hợp phục vụ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Chúng ta thiết lập lại quan hệ hợp tác khoa học và công nghệ đã có truyền thống từ trước tới nay như Nga và Trung Quốc (1992), Ukraina (1995), Belarus và Uzbekistan (1996), Hungari (1995), đồng thời duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với nhiều nước khác như Pháp, Thuỵ Điển, Canada, Hà Lan, CHLB Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, ấn Độ, Austrâylia, Singapore, Cu Ba, Lào, Philippines, Thái Lan, Mỹ, v.v... Chúng ta đã cử hàng trăm người đi trao đổi và đào tạo ngắn hạn, tiếp nhận nhiều đoàn chuyên gia nước ngoài và dành một phần vốn do các nước tài trợ để tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nhiều cơ quan khoa học và công nghệ.
Sau khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN, phía Việt Nam đã tham dự Hội nghị Uỷ ban Khoa học - Công nghệ ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Khoa học - Công nghệ ASEAN, Tuần lễ khoa học công nghệ ASEAN, Hội nghị các quan chức cấp cao ASEAN về môi trường. Thành lập Uỷ ban Khoa học - Công nghệ về ASEAN của Việt Nam gồm 8 tiểu ban thuộc các lĩnh vực hợp tác khoa học công nghệ ASEAN. Hình thành 6 nhóm công tác trong khuôn khổ hợp tác về môi trường của ASEAN. Triển khai quan hệ với ASEAN trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá, quản lý chất lượng và sở hữu công nghiệp.
Tuần lễ khoa học - công nghệ ASEAN lần thứ 5 đã được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5 đến 15/10/1998 với chủ đề KHCN - nguồn động lực hướng tới phát triển bền vững của ASEAN có hàng trăm đại biểu của 9 nước thành viên tham dự, Ban Thư ký ASEAN, đại diện đối thoại của các nước ASEAN; trên 500 nhà khoa học của các nước ASEAN, Việt Nam và các nước đối thoại. Chương trình Tuần lễ khoa học - công nghệ ASEAN lần thứ 5 bao gồm:
Hội nghị Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ ASEAN lần thứ 8
Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN lần thứ 11
Hội nghị Uỷ ban khoa học - công nghệ ASEAN lần thứ 36
Các hội nghị, hội thảo khoa học tập trung vào 8 lĩnh vực truyền thống về KHCN của ASEAN
Triển lãm khoa học - công nghệ ASEAN và các nước đối thoại
Trao các giải thưởng khoa học - công nghệ ASEAN.
Đối với chương trình quốc gia 4 (1992 - 1996) của UNDP về chuyển giao công nghệ không còn lĩnh vực ưu tiên như trong các tài khoá trước. Tuy nhiên có khoảng trên 30 dự án tăng cường cho các Viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo thuộc các tài khoá trước còn được tiếp tục thực hiện trong một số năm đầu của kế hoạch 1991 - 1995. Đối với các tổ chức quốc tế khác như ESCAP, FA0, UNIDO, UNESCO, WIPO .... đã có nhiều hợp đồng cung cấp thông tin, tổ chức đào tạo, hội nghị, hội thảo, hỗ trợ tư vấn trong lĩnh vực chính sách, chiến lược phát triển và chuyển giao công nghệ.
C 8. Công tác xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ quản lý
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban CHTƯ lần thứ 7 (khoá VII) ngày 30-7-1994 về tăng cường hệ thống cơ quan quản lý phát triển công nghệ và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 (khoá VIII) ngày 24-12-1996 về việc Kiện toàn tổ chức và nâng cao trách nhiệm các cơ quan quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ từ trung ương đến cấp huyện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và công nghệ, tăng cường công tác thanh tra công nghệ và thanh tra môi trường, sau khi Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập, Lãnh đạo Bộ đã t.ập trung sự chỉ đạo kiện toàn tổ chức các cơ quan trực thuộc Bộ, trong đặc biệt chú ý kiện toàn và tăng cường các cơ quan quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn- đo lường- chất lượng, bảo vệ môi trường, sở hữu công nghiệp, thẩm định công nghệ các dự án đầu tư, Thanh tra Bộ và các vụ quản lý chức năng.
Bộ cũng đã tạo điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết, tăng cường cán bộ để nâng cao chất lượng nghiên cứu về chiến lược và chính sách KHCN, chuẩn bị tốt các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, xây dưnựg chiến lược và soạn thảo các văn bản luật quan trọng nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu sáng tạo, ứng dụng nhanh các kỹ thuật tiến bộ, các kết quả nghiên cứu của các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn vào sản xuất và đời sống.
Đối với hệ thống tổ chức cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương, Bộ đã phối hợp với Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ và tự mình ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý KHCNMT cho đội ngũ cán bộ quản lý của Bộ và các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường từ sau khi thành lập Bộ, đặc biệt là trong những năm 1986 trở đi đã được sự quan tâm chỉ đạo sát của Lãnh đạo Bộ. Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý KHCNMT đã được thành lập năm 1986 đã thực hiện chỉ thị của Lãnh đạo Bộ triển khai kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý KHCNMT địa phương và một phần cho các cán bộ công tác trong các cơ quan quản lý trực thuộc Bộ. Đến nay, đã tổ chức được hơn 20 lớp nghiệp vụ cho gần 2.000 cán bộ quản lý với các chuyên đề sau:
* quản lý Nhà nước về KHCNMT
* Xây dựng chiến lược và chính sách KHCNB
* thẩm định công nghệ các dự án đầu tư
* Xây dựng kế hoạch và nghiệp vụ quản lý tài chính KHCNMT
Kết hợp với việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, công viẹc phổ biến, quán triệt hệ thống văn bản pháp luật về KHCNMT đã được triển khai tích cực giúp cho các địa phương cập nhật được các chủ trương, chính sách vừa ban hành để thực hiện ở địa phương.
Việc hoàn thiện tổ chức bộ máy về quản lý khoa học và công nghệ được đặt ra theo hướng :
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý khoa học và công nghệ từ Trung ương đến địa phương và từ Trung ương đến các Bộ ngành.
- Khôi phục các tổ chức Hội đồng khoa học tư vấn cho các cấp quản lý ở Trung ương cũng như ở địa phương.
- Thành lập Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia làm tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ.
Bộ máy của cơ quan đã được kiện toàn theo hướng:
Xác định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và tăng cường về cơ sở vật chất - kỹ thuật, cán bộ, tài chính, đổi mới phương thức quản lý, phối hợp chặt chẽ với các bộ chức năng để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường, mở rộng quan hệ quốc tế về khoa học và công nghệ;
Kiện toàn các cơ quan trực thuộc, đặc biệt là các cơ quan phụ trách các nhiệm vụ chủ yếu quản lý Nhà nước (về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, về bảo vệ môi trường, về sở hữu công nghiệp, về xét duyệt trữ lượng khoáng sản); Thành lập thêm một số cơ quan để đảm nhiêm các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công nghệ, về quan hệ quốc tế với các nước ASEAN ...;
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, kiến thức quản lý hành chính Nhà nước, kiến thức pháp lý, nghiệp vụ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý theo nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng ở trong và ngoài nước (tham quan, khảo sát, hội thảo, thực tập, theo các lớp bồi dưỡng, nâng cao, cung cấp tư liệu ...) kết hợp với việc bồi dưỡng trong thực tiễn quản lý khoa học, công nghệ và môi trường;
Tăng cường trang bị các phương tiện, điều kiện làm việc (phòng làm việc, tin học hoá quản lý, cung cấp thông tin quản lý ...).
Kết quả của những biện pháp trên đã nâng cao năng lực thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường của Bộ, tăng thêm sức mạnh, tư thế làm việc cho cơ quan, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý trong hơn 10 năm đổi mới đã góp phần nâng cao từng bước hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường của cơ quan, thực hiện tốt được những nhiệm vụ của Chính phủ giao.
C . 9 Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ:
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII và được Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VII - 1994) và Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII - 1996) và Chỉ thị của Chính phủ thực hiện các nghị quyết của Đảng, với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường đã định hướng hoạt động nhằm từng bước đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tế cuộc sống.
Nhiệm vụ đầu tiên và cũng là nhiệm vụ thường xuyên của Khoa học, Công nghệ và môi trường là tạo ra nhiều hình thức hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội và các quan điểm của Đảng đối với khoa học và công nghệ và vai trò của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Hệ thống quan điểm của Đảng đối với khoa học và công nghệ càng ngày càng được làm sáng tỏ và hoàn thiện trong quá trình lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước. Khi đất nước bước sang giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh thì Đảng khẳng định Khoa học và công nghệ là nền tảng của công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia (NQ TW 7 khoá VII). Đối với xây dựng và phát triển nền khoa học và công nghệ của đất nước nhằm đảm bảo thực hiện được vai trò nhận thức và cải tạo xã hội với chức năng:
- Cung cấp cơ sở khoa học cho các quyết định của Đảng và Chính phủ về đường lối, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, v.v...
- Đẩy nhanh quá trình đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong nền kinh tế nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.
- Xây dựng và phát triển năng lực khoa học và công nghệ để tạo khả năng tiếp thu các tri thức mới của thế giới, thích nghi và làm chủ các công nghệ tiên tiến.
Trong giai đoạn 1993- 1998, Lãnh đạo Bộ đã quan tâm tổ chức nghiên cứu việc đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ trên một số hướng chủ yếu sau:
- Sắp xếp các viện nghiên cứu và phát triển, tập trung đầu tư cho một số viện nghiên cứu những nhiệm vụ KHCN trọng điểm ưu tiên của Nhà nước; gắn nghiên cứu khoa học với đào tạovà sản xuất kinh doanh, chuyển một số viện chuyên đề về trực thuộc tổng công ty, khuyến khích thành lập các cơ sở nghiên cứu ở doanh nghiệp; bước đầu xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia.....
- Đổi mới việc cấp phát tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển theo hướng cấp phát thẳng kinh phí nghiên cứu cho cán bộ chủ trì đề tài, đề án; tăng nguồn tài chính hỗ trợ cho việc thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm, các dự án xây dựng mô hình áp dụng KHCN phục vụ phát triển nông thôn, miền núi.... Hình thành quỹ tín dụng để hỗ trợ việc ứng dụng KHCN vào sản xuất và đời sống với lãi xuất ưu đaĩ.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các tập thể, cá nhân nhà khoa học thành lập các tổ chức KHCN và đăng ký hoạt động.
- Tổ chức việc tuyển cơ quan, cán bộ chủ trì các đề tài, đề án KHCN.
- cho phép thành lập các doanh nghiệp trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo để sản xuất sản phẩm từ kết quả nghiên cứu.
- Từng bước hình thành thị trường KHCN, Nhà nước bảo hộ pháp lý đối với quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp , khuyến khích việc chuyển giao công nghệ trong nước và của nước ngoài vào Việt Nam.
VII. Kết luận
Việc quyết định thành lập Uỷ ban khoa học Nhà nước năm 1958 để giúp Đảng và Chính phủ xây dựng và phát triển khoa học và công nghệ nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ một nền sản xuất nhỏ, cá thể, kỹ thuật lạc hậu và đấu tranh thống nhất nước nhà là một chủ trương đúng đắn, kịp thời của Ban chấp hành Trung ương Đảng và Quốc hội. Uỷ ban Khoa học Nhà nước vừa làm chức năng quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ vừa có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở nghiên cứu trực thuộc chuẩn bị cho việc thành lập Viện Khoa học Việt Nam là một mô hình tổ chức quản lý độc đáo, phù hợp với tình hình Việt Nam và không rập khuôn theo các nước Xã hội chủ nghĩa lúc đó.
40 năm xây dựng và phát triển từ Uỷ ban Khoa học Nhà nước đến Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường là một quá trình vừa làm vừa học vừa thể nghiệm, vừa làm vừa xây dựng tổ chức vừa cải tiến công tác. Trong quá trình vừa làm vừa thể nghiệm đó, nhận thức về nội dung và trách nhiệm quản lý thống nhất về khoa học và công nghệ sáng tỏ dần, nên UBKHNN và UBKHKTNN trước kia cũng như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ngày nay đã đề nghị Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của Uỷ ban, của Bộ ngày càng đầy đủ, cụ thể hơn, ngày càng hợp lý hơn. Cơ cấu tổ chức cũng ngày một phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Cơ sở vật chất được tăng cường dần từng bước. Đội ngũ cán bộ quản lý của Uỷ ban, của Bộ phát triển từng đối nhanh; phần nhiều đã được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ quản lý; từng chức danh đã được quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể. Do đó hoạt động quản lý khoa học và công nghệ của Bộ ngày càng phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, ngày càng có hiệu quả.
40 năm hoạt động, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban bí thư và Thường vụ Hội đồng Chính phủ, được các ngành các địa phương ủng hộ và phối hợp chặt chẽ, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã không ngừng khắc phục biết bao khó khăn, lúng túng, thiếu sót, phấn đấu thực hiện cho được trọng trách của một cơ quan tham mưu và quản lý thống nhất về khoa học và công nghệ của Đảng và Nhà nước, và đã đạt được những thành tựu, những tiến bộ đáng kể vừa phục vụ cho yêu cầu trước mắt vừa phục vụ cho mục đích lâu dài:
1. Bộ đa tham mưu cho Đảng và Chính phủ quyết định đúng đắn những mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm, phương hướng và biện pháp phát triển khoa học và công nghệ cho từng thời kỳ, nhất là mỗi khi có bước ngoặt lịch sử của đất nước, như đã trình Bộ Chính trị và Hội đồng Chính phủ thông qua đường lối, phương châm, nhiệm vụ của khoa học Việt Nam khi miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo và phát triển kinh tế theo con đường xã hội chủ nghĩa, đã chuẩn bị cho Ban Bí thư và Hội đồng Chính phủ ban hành các Nghị quyết 157-NQ/TW và 163-CP về phương hướng, chủ trương công tác khoa học kỹ thuật trong thời chiến, đã đóng góp nhiều vào việc xây dựng Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IV về chính sách khoa học kỹ thuật thống nhất cho cả nước, Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá VI về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới và Nghị quyết 02-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các Nghị quyết đó đã làm chuyển biến nhận thức về vai trò của khoa học và công nghệ, của cách mạng khoa học và công nghệ, và có tác dụng chỉ đạo, thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ của các ngành, các cấp, cũng như hoạt động quản lý của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Bộ hiện đang trình bản dự thảo "Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của Việt Nam đến năm 2020" trong có phương án đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm của các ngành kinh tế chủ yếu đến năm 2005 và một số chính sách phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ.
2. Việc quản lý thống nhất các hoạt động khoa học và công nghệ bằng pháp luật, một phương thức quản lý đặc trưng của Nhà nước pháp quyền, đã có một bước tiến khá dài. Bộ dã chuẩn bị cho Chính phủ lần lượt ban hành, và tự mình ban hành một hệ thống văn bản pháp quy ngày một đầy đủ về chế độ, thể lệ quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ thuộc phạm vi trách nhiệm của Bộ. Các văn bản pháp quy đã được nâng cấp dần, một số đã được nâng cấp từ Nghị định của Hội đồng Chính phủ lên pháp lệnh, lên luật của Hội đồng Nhà nước. Do đó đã có tác dụng đưa công tác quản lý khoa học và công nghệ của Bộ, của các ngành, các cấp đi dần vào nền nếp và ngày càng có hiệu lực.
Hiện Bộ đang trình Quốc hội dự thảo "Luật khoa học và công nghệ" nhằm hệ thống hoá và nâng cấp các quy chế riêng lẻ và hầu hết là dưới luật thành một đạo luật chung của Nhà nước để tiếp tục nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ.
3. Bộ đã giúp Chính phủ kế hoạch hoá công tác khoa học và công nghệ rất sớm, từ năm 1959, thời chiến cũng như thời bình, và việc quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ bằng công cụ kế hoạch đã tiến triển ngày một tốt hơn. Nội dung kế hoạch ngày một toàn diện. Phương pháp kế hoạch hoá ngày một cải tiến, đổi mới theo chiêu hướng gắn với thực tiễn hơn, tập trung hơn:Năm 1978 đã chuyển từ kế hoạch hoá theo vấn đề và đề tài sang kế hoạch hoá theo chương trình có mục tiêu. Số lượng chương trình trọng điểm của Nhà nước cũng giảm dần theo các kế hoạch 5 năm (1981-1985: 76 chương trình; 1986-1990: 54 chương trình; 1991-1995: 31 chương trình; 1996-2000: 18 chương trình và 38 đề tài độc lập) để tập trung lực lượng vào thực hiện những mục tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của Nhà nước, của ngành, của địa phương, khắc phục dần tình trạng phân tán và không sát yêu cầu thực tiễn, do đó đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của nhiều ngành kinh tế mũi nhọn như dầu khí, bưu chính viễn thông, nông nghiệp, giao thông, xây dựng.
Việc ký kết hợp đồng, để thực hiện các đề tài nghiên cứu, triển khai và các dự án sản xuất, thử nghiệm được áp dụng phổ biến cũng có tác dụng liên kết khoa học và công nghệ với kinh tế - xã hội mật thiết hơn, thực hiện các đề tài, đề án có kết quả nhanh hơn, tốt hơn đồng thời góp phần giải quyết khó khăn trong đời sống của cán bộ khoa học và công nghệ.
4. Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lĩnh vực phát triển công nghệ đã được Chính phủ giao cụ thể cho Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường theo Nghị định 22-CP. Thi hành nhiệm vụ này, Bộ đã xây dựng và Hội đồng Nhà nước đã ban hành quy chế chuyển giao công nghệ theo Pháp lệnh chuyển giao công nghệ và theo Bộ luật dân sự. Bộ đã chủ trì xây dựng lộ trì công nghệ đến năm 2005 của các ngành kinh tế chủ yếu, chủ trì xây dựng dự án "Quy hoạch tổng thể và nghiên cứu khả thi khu công nghệ cao Hoà Lạc", đã triển khai thẩm định công nghệ và môi trường các dự án đầu tư và các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Trong số 547 dự án đầu tư đã thẩm định, nhiều dự án phải điều chỉnh lại về công nghệ, thiết bị, giá cả, có dự án phải đình lại, do đó đã ngăn chặn được một số công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ nhập khẩu vào Việt Nam.
5. Tình trạng khai thác bừa bãi các nguồn lợi thiên nhiên và tình trạng ô nhiễm môi trường sống, môi trường lao động ngày càng nghiêm trọng, vấn đề bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề cấp bách, có tính toàn cầu, được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt. Chính phủ đã giao cho Bộ nhiệm vụ quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Theo đề nghị của Bộ, Chính phủ đã ban hành kế hoạch Quốc gia về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, Hội đồng Nhà nước đã ban hành bảo vệ môi trường, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 36/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đó là những cơ sở pháp lý, những văn kiện chỉ đạo quan trọng nhất cho các hoạt động bảo vệ môi trường ở nước ta. Cục Môi trường thuộc Bộ được tăng cường khá nhanh về tổ chức và cán bộ, đã tích cực triển khai các hoạt động tuyên truyền cho công tác bảo vệ môi trường, xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng môi trường, xây dựng mạng lưới quan trắc và phân tích môi trường, thanh tra môi trường, đánh giá tình trạng môi trường hàng năm để báo cáo lên Quốc hội. Cục đã tổ chức thẩm định hàng trăm dự án đầu tư về mặt tác động đối với môi trường, tổ chức nghiên cứu các mô hình công nghệ môi trường cho các loại hình sản xuất ở Việt Nam, tổ chức nghiên cứu các giải pháp quản lý môi trường có hiệu quả.
6. Bộ đã cùng các ngành, các địa phương xây dựng được một hệ thống tổ chức quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, một hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và một hệ thống kiểm định đo lường các cấp, từ Trung ương đến cơ sở.
Tổng cục Tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng được tăng cường khá mạnh về tổ chức, cán bộ và cơ sở vật chất - kỹ thuật, đã luôn cố gắng bám sát và phục vụ thiết thực các yêu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong nước và bước đầu phục vụ chính sách hoà nhập Quốc tế. Hoạt động quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng đã có những chuyển biến phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý kinh tế, quản lý khoa học và công nghệ như: Cải tiến cách thức biên soạn Tiêu chuẩn Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng những tiêu chuẩn được ban hành, chuyển phần lớn TCVN sang tự nguyện áp dụng trừ các TCVN liên quan đến bảo vệ sức khoẻ, an toàn lao động, bảo vệ môi trường. Phân định chức năng quản lý đo lường trong hoạt động thương mại với hoạt động sản xuất và nghiên cứu cơ chế quản lý thích hợp. Triển khai đồng bộ các iện pháp quản lý chất lượng, vừa đề cao trách nhiệm và quyền tự chủ của cơ quan sản xuất, kinh doanh đối với chất lượng sản phẩm và dịch vụ của họ vừa tăng cường quản lý Nhà nước đối với chất lượng một số mặt hàng có giá trị lớn, tăng cường thanh tra diện rộng cề chất lượng hàng hoá và xử lý nghiêm những vụ vi phạm, đề nghị chính sách bả vệ người tiêu dùng. Do đó dã góp phần đưa quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng đi dần vào nền nếp và hạn chế bớt những tiêu cực trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
7. Kinh tế thị trường trong nước và quan hệ kinh tế với nước ngoài ngày một phát triển, nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày một tăng. Công tác quản lý sáng kiến của Bộ đến thập kỷ 80 đã được phát triển thành công tác bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, cơ quan chuyên trách đã được phát triển thành Cục sở hữu công nghiệp, cơ sở pháp lý của hoạt động này đã được nâng cấp từ Nghị định về từng đối tượng bảo hộ lên pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, lên luật dân sự, bảo đảm hiệu lực ngày một cao hơn. Việc xét và cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được Cục Sở hữu công nghiệp tiến hành với nhịp độ ngày một khẩn trương vì số đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ ngày càng nhiều. Tính đến cuối năm 1998, đã có gần 83.000 đối tượng các loại đã được bảo hộ tại Việt Nam, khoảng 700 đơn khiếu nại vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đã được xử lý, hơn 18 tỷ đồng tiền lệ phí đã được nộp vào ngân sách Nhà nước.
8. Là cơ quan thường trực của Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản (nay là Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản), Bộ đã chỉ đạo Văn phòng Hội đồng tổ chức kiểm tra, xét duyệt được 456 báo cáo địa chất thăm dò tính trữ lượng khoáng sản. Đã có 262 báo cáo thăm dò được sử dụng để thiết kế và khai thác trong có những khoáng sản quan trọng như dầu khí, than đá, nước ngầm, nước khoáng, nguyên liệu sản xuất xi măng v.v... Với biên chế gọn nhẹ, chức năng nhiệm vụ rõ ràng, lại tranh thủ được sự cộng tác của đông đảo cán bộ khoa học địa chất - khoáng sản, nên Văn phòng Hội đồng đã bảo đảm được hoạt động có hiệu quả. Văn phòng Hội đồng đang cố gắng tổ chức soạn thảo một số quy phạm, nhất là quy phạm về phân cấp trữ lượng khoáng sản, cho phù hợp với thực tế nước ta hơn, và tranh thù sự phối hợp của một số cơ quan chức năng như cơ quan xét duyệt đề án thăm dò, cơ quan thanh tra địa chất, để đảm bảo và nâng cao chất lượng tài liệu của các báo cáo thăm dò, tính trữ lượng khoáng sản.
9. Bộ luôn cọi trọng việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước.
Bộ đã cũng các ngành tích cực xây dựng các cơ quan nghiên cứu - triển khai, đến nay theo phương hướng chỉ đạo của Chính phủ, các cơ quan này đã được sắp xếp lại thành một hệ thống bao gồm 2 Trung tâm khoa học quốc gia, các Viện nghiên cứu khoa học và công nghệ trọng điểm thuộc các Bộ, các Viện và Trung tâm nghiên cứu triển khai thuộc các Tổng công ty, các trường đại học. Trong hệ thống này, có một số phòng thí nghiệm đã được trang bị tương đối hiện đại theo các hướng ưu tiên như công ngệ sinh học, điện tử - tin học, tự động hoá...
Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tăng nhanh, phần nhiều đã được đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của sự phát triển khoa học và công nghệ. Bộ đã tổ chức đăng ký, thống kê thường xuyên, cố gắng nắm chắc tình hình đội ngũ cán bộ có trình độ trên đại học, trên cơ sở đó, nghiên cứu đề nghị kế hoạch đào tạo và phân phối, sử dụng hợp lý cán bộ trình độ trên đại học. Bộ cũng đã nghiên cứu đề nghị Chính phủ ban hành một số chế độ, chính sách khuyến khích cán bộ khoa học và công nghệ phát huy khả năng của mình.
Bộ đã xây dựng được một hệ thống tổ chức thông tin - tư liệu khoa học và công nghệ từ Trung ương đến cơ sở với Trung tâm thông tin - tư liệu khoa học và công nghệ Quốc gia là trung tâm, với một vốn tư liệu phong phú về sách và tạp chí khoa học và công nghệ, về tiêu chuẩn kỹ thuật và mô tả sáng chế... Hoạt động thông tin tập trung phục vụ lãnh đạo và quả lý khoa học và công nghệ, phục vụ các công tác nghiên cứu, triển khai và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước, của ngành, của địa phương. Thông tin công nghệ được tăng cường hơn. Thông tin và phổ biến khoa học và công nghệ phục vụ các vùng nông thôn, miền núi được chú ý hơn - Nhờ chất lượng sản phẩm và dịch vụ được nâng cao, Trung tâm Thông tin tư liệu khoa học và công nghệ Quốc gia đã thực hiện có hiệu quả dịch vụ thông tin có thu. Hoạt động thư viện luôn cố gắng phục vụ tốt bạn đọc thời chiến cũng như thời bình. Việc ứng dụng tin học vào công nghệ thông tin thư viện được mở rộng: Tại Trung tâm đã có phòng đọc đa phương tiện. Trung tâm đã cung cấp nội dung thông tin khoa học - công nghệ lên Internet và cung cấp dịch vụ Internet dùng riêng.
Đầu tư cho khoa học và công nghệ hiện còn rất thấp vì kinh phí mà ngân sách Nhà nước dành cho hoạt động khoa học và công nghệ chưa năm nào vượt quá 1 % chi ngân sách. Để khắc phục 1 phần khó khăn này, chính sách tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ đã có những chyển biến tốt: tăng mức đầu tư cho khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn vốn ngoài vốn từ ngân sách Nhà nước; áp dụng chính sách thuế ưu đãi đối với hoạt động khoa học và công nghệ; nâng cao vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các ngành, các địa phương trong việc phân bổ và điều hoà tài chính từ các nguồn vốn cho các hoạt động khoa học và công nghệ của ngành, của địa phương.
10. Bộ đã giúp Chính phủ phát triển quan hệ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ ngày một rộng rãi, ngày một đa dạng. Từ hợp tác chủ yếu với các nước XHCN, đã mở rộng dần quan hệ hợp tác với các tổ chức Quốc tế về khoa học và công nghệ, với nhiều nước tư bản chủ nghĩa từ hợp chủ yếu về khoa học tự nhiên đã mở rộng dần hợp tác sang lĩnh vực khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội. Từ hình thức tranh thủ viện trợ quốc tế là chính đã phát triển dần sang hình thức hợp tác nghiên cứu những vấn đề KH&CN mà các bên cùng quan tâm sang hình thức các bên tham gia hợp tác đều có nghĩa vụ và quyền lợi bình đẳng. Sau khi trở thành thành viên của ASEAN, chúng ta đã mau chóng triển khai các hoạt động nhằm phát triển quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ với các nước trong khu vực. Qua hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, nhất là với các nước XHCN trước đây, chúng ta đã tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ, về tài liệu khoa học và công nghệ, về giống cây trồng, vật nuôi, về mẫu máy, về thiết bị khoa học, về kinh nghiệm tổ chức và quản lý khoa học và công nghệ...
11. Bộ đã kiên trì xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý về khoa học và công nghệ từ Trung ương đến cơ sở. Việc thành lập các Vụ KHKT Bộ, các Ban KHKT tỉnh, Thành phố nay là Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, cùng với việc kết hợp quản lý khoa học và công nghệ theo ngành với quản lý khoa học và công nghệ theo địa phương cũng là một nét độc đáo về quản lý khoa học, công nghệ và môi trường của Việt Nam. Bộ đã tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về các lĩnh vực quản lý cho đông đảo cán bộ nhân viên trong hệ thống quản lý đồng thời cũng đã đưa một số cán bộ đi tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức, quản lý khoa học và công nghệ, và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý ở nước ngoài nên trình độ quản lý khoa học và công nghệ được nâng cao rõ rệt, hoạt động ngày một toàn diện, đúng chức năng hơn và có tác dụng đưa hoạt động khoa học và công nghệ của các ngành, các cấp đi dần vào nền nếp và có hiệu quả hơn.
Nhìn lại 40 năm qua, từ những thành tựu và những tồn tại của Bộ, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm đáng chú ý về tổ chức và quản lý khoa học và công nghệ như sau:
1. Kinh nghiệm cơ bản nhất là phải luôn gắn khoa học, công nghệ với kinh tế, xã hội và quốc phòng. Mọi hoạt động khoa học - công nghệ cần xuất phát từ những yêu cầu cụ thể của kinh tế, xã hội và quốc phòng và nhằm phục vụ thiết thực những yêu cầu đó thì mới được ủng hộ, mới được đầu tư thích đáng, mới có địa chỉ ứng dụng kết quả và mới có điều kiện tiếp tục phát triển. Yêu cầu thì nhiều, khả năng thì có hạn, chúng ta cần lựa chọn, cần tập trung lực lượng vào giải quyết những vấn đề quan trọng nhất, tuyệt đối không nên phân tán lực lượng, dàn trải hoạt động thì mới giải quyết dứt điểm và có kết quả tốt được. Kế hoạch khoa học và công nghệ phải gắn với kế hoạch kinh tế - xã hội, phục vụ cho kế hoạch kinh tế - xã hội, nhiều biện pháp phát triển khoa học - công nghệ phải được thể hiện trong chính sách kinh tế thì mới bảo đảm được hiệu lực thực tế, do đó cần có sự phối hợp mật thiết giữa bộ máy quản lý kinh tế và bộ máy quản lý khoa học và công nghệ để bảo đảm sự gắn kết về chính sách và kế hoạch giữa 2 khu vực đó. Cơ chế quản lý kinh tế - xã hội đổi mới sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển do đó tạo thêm nhu cầu ứng dụng khoa học và công nghệ, tạo thêm điều kiện cho khoa học và công nghệ phát triển và cho quản lý khoa học và công nghệ đổi mới. Ngược lại những thành quả khoa học và công nghệ sẽ là căn cứ để quyết định những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới quản lý kinh tế - xã hội. Đây là quan hệ nhân quả giữa khoa học - công nghệ và kinh tế - xã hội ta cần chú ý vận dụng.
2. Một khi Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, chính sách lơn về khoa học và công nghệ, các cấp quản lý cần khẩn trương nghiên cứu, ban hành những văn bản hướng dẫn thực hiện thật cụ thể trong phạm vi trách nhiệm của ngành mình, cấp mình để kịp thời phát huy hiệu lực của các chủ trương, chính sách đó. Càng chậm thực hiện, hiệu lực càng thấp, hiệu quả càng ít.
3. Về tổ chức quản lý, chức năng, nhiệm vụ có rõ, tổ chức có phù hợp, có ổn định thì cán bộ mới yên tâm làm việc, mới triển khai tốt công tác. Khi có vấn đề chức trách chưa rõ, tổ chức chưa thích hợp, lãnh đạo nên tập trung nghiên cứu giải quyết kịp thời, không nên để kéo dài tình trạng lúng túng quá lâu về tổ chức và hoạt động. Khi thấy một tổ chức chưa phát huy được tác dụng, lãnh đạo cần cùng cán bộ của tổ chức đó đi sâu tìm hiểu nguyên nhân một cách toàn diện xem do chức năng nhiệm vụ chưa hợp lý, tổ chức chưa hợp lý hay do tổ chức chưa được củng cố tăng cường đúng mức, cán bộ phụ trách chưa phù hợp với yêu cầu của tổ chức... để giải quyết cho đúng nguyên nhân, không nên thay đổi tổ chức một cách vội vàng để rồi sau đó lại có thể phải thay đi đổi lại làm cho tổ chức không ổn định, tư tưởng và công tác của cán bộ không ổn định. Nguyên tắc tổ chức "trước hợp sau phân" là một nguyên tắc đúng đắn, nhưng vận dụng nguyên tắc đó như thế nào cho hợp lý thì cần đi sâu nghiên cứu yêu cầu và cơ chế quản lý của tổ chức đó. Vì muốn giảm bớt đầu mối mà hợp quá nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, vượt quá khả năng của cơ quan, của thủ trưởng cũng không được. Phân ra quá nhiều tổ chức để rồi phải đặt ra vấn đề phối hợp sao cho chặt chẽ cũng không nên.
4. Về hoạt động, cần hoạt động cho đúng chức năng nhiệm vụ, đúng phân công, phân cấp thì mới có điều kiện và khả năng làm tròn chức trách của mình. Trước đây, Uỷ ban khoa học Nhà nước và Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước phải xây dựng lực lượng nghiên cứu chuẩn bị cho việc thành lập Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Khoa học Việt Nam, việc đó là cần thiết nhưng đã làm cho Uỷ ban không thể tập trung thích đáng vào việc xây dựng tổ chức và lực lượng quản lý khoa học và công nghệ của Uỷ ban và của cả hệ thống. Nhiều Ban KHKT trước đây cũng chú trọng tổ chức công tác nghiên cứu hơn công tác quản lý, vừa làm thay công việc của cơ quan khác vừa không thực hiện tốt chức năng của mình nên không được các Sở, ty đồng tình, ủng hộ. Trong quản lý khoa học và công nghệ, Bộ cũng chỉ có thể giúp Chính phủ quản lý những đối tượng, những nhiệm vụ quan trọng, thực sự là trọng điểm của Nhà nước, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương, còn thì phải phân công, phân cấp cho các ngành, các địa phương quản lý mới hợp lý, mới làm tốt được.
5. Trong công tác tham mưu và quản lý của mình, Bộ luôn luôn coi trọng việc tập hợp trí tuệ của cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ, có kinh nghiệm của các ngành, các cơ sở thông qua tổ chức và hoạt động của các Ban, các Hội đồng khoa học và công nghệ của Bộ, qua các Hội nghị, Hội thảo, qua trưng cầu ý kiến cá nhân và đơn vị..., bảo đảm cho việc đánh giá tình hình, đề nghị phương hướng, chủ trương, chính sách khoa học và công nghệ của Bộ nói chung đúng đắn. Kinh nghiệm cũng cho thấy muốn tập hợp và phát huy được trí tuệ của cán bộ khoa học và công nghệ thì bản thân các cơ quan của Bộ cũng phải đủ sức nêu được những vấn đề mà nhiều cơ quan cùng quan tâm, đủ sức chuẩn bị tốt những vấn đề đưa ra trưng cầu ý kiến, và cũng phải có chính sách khuyến khích thoả đáng đối với cộng tác viên của Bộ.
6. Một kinh nghiệm quan trong nữa là phải tiến hành quản lý hoạt động khoa học và công nghệ bằng nhiều công cụ tổ chức, pháp chế kế hoạch, đòn bẩy kinh tế phối hợp nghĩa là theo một cơ chế đồng bộ và khắc phục dần cơ chế quản lý hành chính bao cấp thì mới có thể thúc đẩy có hiệu quả các công tác nghiên cứu, triển khai, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, phát huy mạnh mẽ tiềm lực khoa học và công nghệ, phục vụ tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Thời kỳ 2002-nay
Từ tháng 8/2002 đến nay, Bộ KH&CN được thành lập theo Nghị quyết Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XI. Bộ KH&CN có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN, phát triển tiềm lực KH&CN; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; sở hữu trí tuệ (SHTT); năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thuộc Bộ quản lý.
Việc thành lập Bộ KH&CN trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển KH&CN, giúp Bộ tập trung hơn cho các nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN trong phạm vi cả nước, khẳng định vị thế và vai trò của Bộ trong việc điều phối và thúc đẩy các hoạt động KH&CN đóng góp tích cực cho phát triển nền kinh tế đất nước và hội nhập.
Trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Bộ KH&CN đã không ngừng khắc phục các khó khăn, phấn đấu thực hiện tốt nhất trọng trách của một cơ quan tham mưu, giúp Đảng và Chính phủ quản lý thống nhất về KH&CN trong phạm vi cả nước, và đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu bền bỉ, lâu dài của tập thể Lãnh đạo và đội ngũ các cán bộ, công chức của Bộ.