Quá trình phát triển của Bộ KH&CN
Tóm tắt quá trình phát triển của Bộ Khoa học và Công nghệ
Các thời kỳ phát triển
I Thời kỳ 1958 - 1965
II. Thời kỳ 1966-1975
III. Thời kỳ 1976-1985
IV. Thời kỳ 1986-1992
V. Thời kỳ 1993-2002
VI. Thời kỳ 2002-nay
Tóm tắt quá trình phát triển của Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), tiền thân là Uỷ ban Khoa học Nhà nước (UBKHNN) được thành lập theo Sắc lệnh số 016-SL ngày 4/3/1959 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sự phát triển từ Uỷ ban UBKHNN sang Bộ KH&CN là một quá trình vừa hình thành, vừa xây dựng và hoàn thiện. Trong quá trình phát triển đó, nhận thức về nội dung và trách nhiệm quản lý về KH&CN ngày càng được nâng cao. Hoạt động quản lý KH&CN của Bộ đã phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và ngày càng có hiệu quả.
Giai đoạn 1959 - 1965, UBKHNN có chức năng bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật, đưa nền khoa học và kỹ thuật Việt Nam lên trình độ tiên tiến nhằm phục vụ sản xuất, dân sinh, quốc phòng, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở Miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Giai đoạn 1965 - 1975, UBKHNN được tách thành 2 cơ quan: Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (UBKH&KTNN) và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. UBKH&KTNN quản lý thống nhất và tập trung công tác khoa học và kỹ thuật và trực tiếp thực hiện chức năng của một Viện nghiên cứu về khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật nhằm thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ CNXH ở Miền Bắc, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Giai đoạn 1975 - 1985, đứng trước yêu cầu to lớn và cấp bách khi cả nước vừa xây dựng CNXH vừa phải đối phó với hai cuộc chiến tranh biên giới, khối nghiên cứu được tách khỏi Uỷ ban để thành lập Viện Khoa học Việt Nam. UBKH&KTNN lúc này chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước nhằm phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng.
Giai đoạn 1985 - 1992, giai đoạn của những thay đổi quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng về đổi mới và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Năm 1990, UBKH&KTNN được đổi tên thành UBKHNN, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhằm khuyến khích việc sáng tạo và ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kỹ thuật, đưa lại hiệu quả thiết thực cho thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Giai đoạn 1992 - 2002, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập trong bối cảnh đất nước thực hiện công cuộc đổi mới và chuẩn bị bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tiêu chuẩn hóa, sở hữu công nghiệp (SHCN) và bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước.
Từ tháng 8/2002 đến nay, Bộ KH&CN được thành lập theo Nghị quyết Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XI. Bộ KH&CN có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động KH&CN, phát triển tiềm lực KH&CN; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; sở hữu trí tuệ (SHTT); năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thuộc Bộ quản lý.
Việc thành lập Bộ KH&CN trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển KH&CN, giúp Bộ tập trung hơn cho các nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN trong phạm vi cả nước, khẳng định vị thế và vai trò của Bộ trong việc điều phối và thúc đẩy các hoạt động KH&CN đóng góp tích cực cho phát triển nền kinh tế đất nước và hội nhập.
Trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Bộ KH&CN đã không ngừng khắc phục các khó khăn, phấn đấu thực hiện tốt nhất trọng trách của một cơ quan tham mưu, giúp Đảng và Chính phủ quản lý thống nhất về KH&CN trong phạm vi cả nước, và đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu bền bỉ, lâu dài của tập thể Lãnh đạo và đội ngũ các cán bộ, công chức của Bộ.
Thời kỳ Uỷ ban Khoa học Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và nghiên cứu khoa học- kỹ thuật (bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội) trong hoàn cảnh đất nước vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc vừa đấu tranh thống nhất nước nhà.
Năm 1958, Miền Bắc nước ta đã hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế và bắt đầu thực hiện nhiệm vụ cải tạo và phát triển kinh tế theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lúc này tình hình kinh tế và xã hội của Miền Bắc ổn định, sản xuất công nghiệp có tăng ( đã có 117 xí nghiệp quốc doanh và 60.000 công nhân), khoa học và kỹ thuật có phát triển ( đã có 8 Viện Nghiên cứu, 6 trường Đại học, một số trường Trung học chuyên nghiệp và khoảng 2000 cán bộ KHKT trình độ đại học). Phong trào cải tiến kỹ thuật của quần chúng công nông bắt đầu nảy nở. Mọi mặt có chuyển biến tốt, nhưng tình trạng lạc hậu vẫn chưa xoá bỏ được. Giá trị sản lượng công nghiệp mới chiếm gần 20% tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp. Năng xuất lao động còn thấp chất lượng sản phẩm chưa cao. Trình độ văn hoá của cán bộ và nhân dân còn thấp. Lực lượng KHKT còn nhỏ bé, trình độ còn hạn chế.
Đảng và Chính phủ quan tâm đến KHKT nhưng chưa định rõ đường lối, phương châm , nhiệm vụ cho các hoạt động KHKT, chưa có sự Lãnh đạo , quản lý tập trung, thống nhất đối với công tác KHKT. Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, cá thể, kỹ thuật lạc hậu, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng được các nước XHCN nhất là Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, chúng ta phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, như Hội nghị lần thứ 10 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá II và Đại hội Đảng lần thứ III đã khẳng định. Để thực hiện thành công ba cuộc cách mạng đó, chúng ta phải ra sức phát triển khoa học và kỹ thuật (cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội), đưa nhanh các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, đời sống và quốc phòng, mau chóng xây dựng một nền khoa học và kỹ thuật tiên tiến đủ sức tiếp thu được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và tự mình giải quyết được những vấn đề của đất nước, làm cơ sở cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.. Phải lãnh đạo, quản lý tốt khoa học và kỹ thuật ngay từ khi bắt đầu triển khai xây dựng, mới có thể phát triển nhanh chóng, đúng hướng, có hiệu quả và ít tốn kém . Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14của BCH TƯ Đảng khoá II đã nhấn mạnh vai trò của khoa học và kỹ thuạat, yêu cầu Đảng phải nắm vững lãnh đạo khoa học và kỹ thuật và sự cần thiết phải thành lập Uỷ ban khoa học Nhà nước.
Chính vì thế mà cuối năm 1957, Ban Bí thư và Hội đồng Chính phủ đã cử một đoàn khoa học Việt Nam, do ông Hà Huy Giáp Trưởng tiểu ban Giáo dục Khoa học Trung ương làm trưởng đoàn và ông Tạ Quang Bửu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Giám đốc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội làm phó trưởng đoàn đi tham quan tìm hiểu tình hình khoa học và kỹ thuật và kinh nghiệm tổ chức, quản lý công tác khoa học và kỹ thuật của Trung Quốc trong thời gian 2 tháng Quốc hội khoá I, trong phiên họp ngày 29/4/1958 kỳ họp thứ 8, đã quyết nghị thành lập Uỷ ban Khoa học Nhà nước để giúp Chính phủ xây dựng và phát triển khoa học và kỹ thuật..
Sau khi có nghị quyết của Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ đã cử Ban trù bị do ông Tạ Quang Bửu làm trưởng ban để xúc tiến việc thành lập UBKHNN - Ban trù bị dự thảo đề án về đường lối, phương châm, nhiệm vụ trước mắt của khoa học Việt Nam và đề án về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của UBKHNN đã tổ chức hội thảo để trưng cầu ý kiến của 50 nhà khoa học và kỹ thuật tiêu biểu trong nước và ngày 20/11/1958 đã trình các đề án lên Ban bí thư và Hội đồng Chính phủ. Ngày 11/12/1958, Hội đồng Chính phủ (HĐCP) đã thông qua các đề án này và cử các thành viên của UBKHNN. Quốc hội , trong phiên họp ngày 14/12/1958 đã cử Phó Thủ tướng Trường Chinh kiêm chức Chủ nhiệm đầu tiên của Uỷ ban khoa học Nhà nước.
UBKHNN bắt đầu hoạt động từ tháng 11/1958. Vài tháng đầu, mới có ông Tạ Quang Bửu, ông Lê Khắc và 5 cán bộ nhân viên làm việc ở ngôi nhà số 38 Phố Ngô Quyền, hiện là trụ sở của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ. Ngày 4/3/1959, thừa uỷ quyền của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ ký sắc lệnh số 016/SL chính thức thành lập UBKHNN. Theo sắc lệnh UBKHNN có trách nhiệm và quyền hạn ngang Bộ, có nhiệm vụ chung là "giúp Chính phủ xây dựng và lãnh đạo công tác khoa học về mọi mặt nhằm phục vụ sự nghiệp kiến thiết XHCN ở miền Bắc, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà và sự nghiệp hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc" và gồm có chủ nhiệm, một số phó chủ nhiệm, tổng thư ký và một số uỷ viên. Ngày 4/4/1962, HĐCP ban hành Nghị định 43-CP quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBKHNN.A. chức năng, nhiệm vụ của UBKHNN :
Theo Nghị định 43-CP, "UBKHNN là cơ quan của HĐCP có trách nhiệm quản lý công tác khoa học và kỹ thuật theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật, đưa nền khoa học và kỹ thuật Việt Nam lên trình độ tiên tiến nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà". UBKHNN có những nhiệm vụ:
1. Nghiên cứu trình HĐCP ban hành các chính sách, chế độ, thể lệ về khoa học và kỹ thuật, tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ ấy.
2. Nghiên cứu trình HĐCP phê chuẩn phương hướng, kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật của Nhà nước. Tổ chức việc điều hoà phối hợp công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật giữa các Bộ, các ngành, các cấp nhằm thực hiện những phương hướng kế hoạch ấy.
3. Hướng dẫn các Bộ, các ngành, các địa phương xây dựng và phát triển lực lượng nghiên cứu khoa học. Xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học trực thuộc Uỷ ban để tiến tới thành lập Viện Khoa học Việt Nam.
4. Tổ chức việc tổng kết những công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật lớn, xác minh kết quả của các công trình nghiên cứu ấy và đề ra kiến nghị để các ngành, các địa phương phổ biến và thực hiện.
5. Theo dõi, hướng dẫn các Bộ, các ngành, các địa phương trong công tác quản lý kỹ thuật và phổ biến khoa học và kỹ thuật.
6. Theo dõi tình hình đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật. Xây dựng chế độ đào tạo nghiên cứu sinh (NCS) và theo dõi việc thực hiện chế độ ấy.
7. Thi hành các hiệp định hợp tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật mà nước ta đã ký kết với nước ngoài. Trong phạm vi được uỷ quyền của Chính phủ, ký kết với các cơ quan khoa học và kỹ thuật nước ngoài các hiệp định về hợp tác khoa học và kỹ thuật.
8. Quản lý tổ chức, cán bộ, biên chế, lao động tiền lương, tài vụ, vật tư, kiến thiết cơ bản của UBKHNN theo chế độ chung của Nhà nước.
B. Cơ cấu tổ chức của UBKHNN :1. Cơ quan lãnh đạo của UBKHNN là 1 tập thể gồm 21 thành viên, hầu hết là cán bộ lãnh đạo các cơ quan, đoàn thể cấp trung ương kiêm nhiệm, đại đa số là cán bộ khoa học và kỹ thuật tiêu biểu.
Chức vụ chủ nhiệm Uỷ ban do các Phó Thủ tướng Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh lần lượt đảm nhiệm (ông Trường Chinh 12/1958-7/1960, ông Võ Nguyên Giáp 7/1960-1/1963, ông Nguyễn Duy Trinh 1/1963- 10 /1965).
Các Phó chủ nhiệm Uỷ ban:
- Ông Bùi Công Trừng, nhà kinh tế học, Chủ nhiệm Văn phòng kinh tế Phủ Thủ tướng.
- Ông Tạ Quang Bửu, nhà toán học, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Giám đốc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
- Ông Nguyễn Xiển, kỹ sư, Giám đốc Nha khí tượng, Bộ trưởng Bộ Cứu tế - xã hội
- Ông Nguyễn Khánh Toàn, nhà sử học, Thứ trưởng Bộ Giáo dục (từ năm 1960)
- Ông Trần Quang Huy, Phó trưởng ban tuyên giáo trung ương(1959-1960).
Các Uỷ viên uỷ ban
- Ông Lê Khắc, kỹ sư cầu đường, uỷ viên chuyên trách của UBKHNN
- Ông Nghiêm Xuân Yêm, kỹ sư canh nông Bộ trưởng Bộ Nông Lâm
- Ông Trần Đại Nghĩa, kỹ sư, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng
- Ông Phạm Văn Bạch, tiến sĩ luật, Chánh án Toà án tối cao
- Ông Hồ Đắc Di, bác sĩ y khoa, Giám đốc Trường Đại học Y khoa Hà Nội
- Ông Phạm Ngọc Thạch, bác sĩ y khoa, Bộ trưởng Bộ Y tế
- Ông Trần Đăng Khoa, kỹ sư cầu đường, Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi.
- Ông Trần Huy Liệu, nhà sử học, Uỷ viên thường trực Quốc hội, Viện trưởng Viện Sử học
- Ông Lê Văn Thiêm, tiến sĩ toán học, Chủ nhiệm khoa khoa học tự nhiên, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
- Ông Nguyễn Văn Huyên, tiến sĩ văn khoa, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
- Ông Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hoá.
- Ông Bùi Quang Tạo, Bộ trưởng Bộ kiến trúc
- Ông Nguyễn Văn Trân, Phó chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước
- Ông Hoàng Văn Thái, Trung tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn Bộ Quốc phòng
- Ông Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
- Ông Nguyễn Lam. Bí thư thứ nhất BCHTW Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh
Giúp Uỷ ban thường xuyên chỉ đạo mọi mặt công tác của Uỷ ban có Ban thường trực gồm các ông Bùi Công Trừng, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Lê Khắc. Giúp Uỷ ban điều hành công việc hàng ngày có Tổng thư ký và phó tổng thư ký: Ông Tạ Quang Bửu là phó chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký, ông Chu Văn Biên là phó tổng thư ký.2. Các cơ quan quản lý KHKT có :
a) Các Ban khoa học là cơ quan giúp Uỷ ban quản lý công tác khoa học và kỹ thuật của các bộ, ngành đồng thời xây dựng, chỉ đạo các cơ sở nghiên cứu trực thuộc Uỷ ban. Mỗi ban khoa học thành lập một số Tiểu ban hoặc tổ chuyên ngành để thực hiện các nhiệm vụ tham mưu và quản lý của Ban đối với từng ngành khoa học và kỹ thuật, và một số tổ chuyên đề để phối hợp lực lượng nghiên cứu một số vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cơ quan KHKT. Các Ban khoa học, các Tiểu ban, tổ chuyên ngành là những hình thức tổ chức tập hợp những nhà khoa học và kỹ thuật có trình độ, có kinh nghiệm của các ngành. Mỗi Ban khoa học có một thư ký vụ là bộ máy làm việc thuộc biên chế của UBKHNN để giúp Ban điều hành công việc hàng ngày. Đầu năm 1959, UBKHNN có 5 Ban khoa học: Ban khoa học xã hội, Ban khoa học cơ bản, Ban khoa học kỹ thuật, Ban khoa học nông nghiệp, Ban Y học. Quý 3/1959, Uỷ ban lập thêm Ban điều tra cơ bản. Qua thực tế công tác, thấy không thể quản lý tách rời công tác điều tra cơ bản các điều kiện và tài nguyên thiên nhiên với công tác nghiên cứu khoa học về sinh học và địa học nên sang năm 1960, Uỷ ban tổ chức lại Ban khoa học cơ bản và Ban điều tra cơ bản thành Ban toán lý hoá và Ban sinh vật địa học. Đến năm 1962, Ban toán lý hoá lại được phân thành Ban toán lý và Ban hoá học, việc quản lý mọi công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật về hoá học được tập trung thống nhất vào Ban Hoá học.
b, Viện đo lường và tiêu chuẩn, thành lập năm 1962 để giúp Uỷ ban tổ chức, chỉ đạo các công tác tiêu chuẩn hoá và quản lý đo lường đang trở lên cấp thiết đối với yêu cầu phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá, phát triển khoa học - kỹ thuật.3. Các cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật có :
- Viện Văn học thành lập tháng 1 năm 1959 (tách từ Ban Nghiên cứu văn - sử - địa)
- Viện Sử học thành lập tháng 1/1959 (tách từ Ban nghiên cứu văn - sử - địa)
- Viện Kinh tế thành lập tháng 3/1959
- Tổ Triết học thành lập tháng 8/1959 đến tháng 5/1964 được quyết định thành Viện Triết học
- Tổ Luật học, thành lập tháng 10/1959
- Phòng Ngôn ngữ học thành lập năm 1964
- Phòng Dân tộc học thành lập năm 1964
- Đội khảo cổ học, từ Bộ Văn hoá chuyển sang Uỷ ban năm 1964
- Trạm nghiên cứu Biển thành lập tháng 2 năm 1961
- Trạm kỹ thuật nhiệt đới hoá và các bộ phận nghiên cứu toán lý, sinh vật, địa học, ra đời năm 1961 nhằm chuẩn bị cho việc thành lập Viện liên hợp nghiên cứu khoa học do Liên Xô giúp xây dựng 1 cách toàn diện (thiết kế, giám sát thi công, cung cấp thiết bị toàn bộ, đào tạo cán bộ) với ý định sau một thời gian phát triển sẽ tách ra thành nhiều Viện nghiên cứu chuyên ngành. Trụ sở của Viện xây dựng dở dang, đến 1965 phải tạm hoãn do chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ.
- Năm 1962, Uỷ ban còn lập Phòng nghiên cứu hoá học nhưng đến tháng 5/1964 Phòng được chuyển sang Bộ Công nghiệp nặng, và sáp nhập vào Viện Hoá học của Bộ.
4. Các cơ quan quản lý và hành chính sự nghiệp khác :
+ Năm 1959 có :
- Thư Viện khoa học trung ương (Thư viện này vốn là thư viện của Trường Viễn đông Bác Cổ Pháp do Bộ Giáo dục tiếp quản năm 1957 và chuyển sang Uỷ ban tháng 1/1959).
- Một số Phòng trực thuộc UBKHNN do Tổng thư ký và Phó tổng thư ký trực tiếp chỉ đạo (Phòng kế hoạch khoa học, Phòng tổ chức - cán bộ, Phòng liên lạc quốc tế, Phòng biên dịch, Phòng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, Phòng hành chính - quản trị, Phòng Tài vụ, Phòng khí tài - vật tư).
+ Từ năm 1960, thành lập : Vụ Tổ chức - cán bộ, với chức năng giúp Uỷ ban xây dựng, quản lý tổ chức và cán bộ của Uỷ ban, đồng thời theo dõi tình hình tổ chức và cán bộ khoa học và kỹ thuật trong nước, nghiên cứu chính sách, chế độ đối với cán bộ khoa học và kỹ thuật và Văn phòng Uỷ ban (trong có Phòng kế hoạch khoa học và Phòng khoa học kỹ thuật địa phương). Các phòng trực thuộc Uỷ ban chỉ còn Phòng liên lạc quốc tế, Phòng thông tin khoa học và kỹ thuật ( thành lập tháng 8/1961) lúc đầu trực thuộc Uỷ ban, sau chuyển sang TVKHTW để tiện khai thác, sử dụng kho Thư viện, đến tháng 7/1964 lại chuyển về trực thuộc Uỷ ban), phòng thuật ngữ khoa học và kỹ thuật, Nhà xuất bản khoa học (ngoài Nhà xuất bản khoa học trực thuộc Uỷ ban, còn có Nhà xuất bản văn học chuyển từ Bộ văn hoá sang Viện văn học và Nhà xuất bản sử học trực thuộc Viện sử học) và Bộ phận thường trực Hội đồng giám định sáng kiến phát minh.C. Những chủ trương và hoạt động của UBKHNN :
Căn cứ vào phương châm, nhiệm vụ trước mắt của khoa học Việt Nam và chức năng, nhiệm vụ của UBKHNN đã được HĐCP thông qua ngày 4/12/1958, trong phiên họp toàn thể Uỷ ban lần thứ nhất ngày 18/12/1958 và phiên họp bất thường ngày 15/1/1959, Uỷ ban đã quyết định mấy công tác lớn trước mắt của Uỷ ban là:
a) Xây dựng bộ máy của Uỷ ban theo nguyên tắc trước nhỏ sau lớn, trước hợp sau phân, trọng chất hơn lượng, không hình thức
b) Tổ chức, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch nghiên cứu, áp dụng khoa học và kỹ thuật, trước hết là kế hoạch khoa học và kỹ thuật 2 năm 1959 - 1960, chú trọng quản lý mấy vấn đề khoa học và kỹ thuật chung và lớn của kế hoạch
c) Tổ chức chỉ đạo công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật và phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật là 2 công tác lớn, quan hệ mật thiết với nhau
d) Nắm tình hình lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật đã có và đang đào tạo để có cơ sở cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Giáo dục đặt kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cho sát yêu cầu phát triển khoa học và kỹ thuật
e) Phát triển quan hệ hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ về khoa học và kỹ thuật của các nước XHCN anh em.
1. Thời kỳ này, được Ban bí thư và HĐCP quan tâm, được các cơ quan hữu quan đồng tình, ủng hộ, Uỷ ban đã xây dựng được bộ máy quản lý, nghiên cứu, hành chính sự nghiệp của mình tương đối hợp lý, theo đúng phương châm trước nhỏ sau lớn, trước hợp sau phân . Biên chế được tăng tương đối nhanh từ 7 người cuối 1958, 274 người cuối 1959 lên 828 người tháng 5/1965. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật đã tập hợp được đông đảo cán bộ khoa học và kỹ thuật có trình độ, có kinh nghiệm của các ngành tham gia các công tác tham mưu và quản lý của Uỷ ban, tham gia thực hiện một số công tác điều tra nghiên cứu thuộc kế hoạch khoa học và kỹ thuật của Nhà nước. Các cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật đều là những cơ sở cần thiết, cần xây dựng trước tiên đối với một nước độc lập, đang phát triển, và đều đã cố gắng tổ chức thực hiện có kết quả một số đề tài về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật thuộc kế hoạch khoa học và kỹ thuật của Nhà nước. Các cơ quan phục vụ khoa học và kỹ thuật đã đảm bảo được khối lượng công tác phục vụ quản lý và nghiên cứu ngày một tăng nhanh.
2. Tham khảo kinh nghiệm kế hoạch hoá công tác khoa học và kỹ thuật của Trung Quốc, đầu năm 1959, Uỷ ban đã cố găng tổ chức xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật 2 năm 1959 - 1960 tập trung vào một số công tác quan trọng nhất, không yêu cầu đầy đủ mọi ngành, mọi mặt nhằm phục vụ kịp thời cho kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế 3 năm 1958 - 1960 của Nhà nước. Từ tháng 6/1960 đến tháng 3/1961, Uỷ ban đã tổ chức xây dựng chương trình phát triển khoa học và kỹ thuật dài hạn trong vòng 15 năm và kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5 năm 1961-1965 nhằm phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế - văn hoá 5 năm đầu tiên của Nhà nước và chuẩn bị phục vụ một phần cho kế hoạch tiếp theo. Uỷ ban đã căn cứ vào các đặc điểm tình hình tự nhiên , kinh tế , xã hội, KH- KT của Miền Bắc và các yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh, quốc phòng, đấu tranh thống nhất nước nhà mà đề nghị những phương châm phát triển KHKT, những nhiệm vụ lớn về nghiên cứu KHKT, phát triển tiềm lực KHKT và hợp tác quốc tế về KHKTtrong vòng 15 năm tới. Ngoài 4 phương châm đã trình Ban Bí thư và HĐCP hồi tháng 11/ 1958:
- Lý luận liên hệ vói thực tiễn.
- Khoa học phải đi theo đường lối quần chúng
- Khoa học phải có kế hoạch
- Phải học tập các nước anh em và tận dụng sự giúp đỡ của các nước anh em.
Lần này Uỷ ban còn đề nghị thêm phương châm kết hợp trước mắt với lâu dài. Tháng 4/1961 các dự án phát triển KHKT dài hạn và 5 năm 1961 - 1965 được Uỷ ban đưa sang Liên Xô để tham khảo ý kiến của Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Liên Xô và các Viện Hàn lâm Liên Xô (Viện Hàn lâm khoa học, Viện Hàn lâm nônghọc Viện Hàn lâm y học) các dự án được chỉnh lý lại, đến tháng 12/1961 thì hoàn thành. Trên cơ sở chương trình dài hạn và kế hoạch 5 năm đó, Uỷ ban đã hướng dẫn xây dựng và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm 1 cách đều đặn, trong đó Uỷ ban tổ chức thực hiện một số công tác điều tra nghiên cứu quan trọng liên quan đến nhiều cơ quan kể cả các cơ quan nghiên cứu của Uỷ ban. Thời kỳ này, kế hoạch KHKT mới tổng hợp các công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học, chưa tổng hợp các điều kiện thực hiện kế hoạch. Tuy nhiên, Uỷ ban đã họp liên tịch với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước để bàn định việc phối hợp giữa 2 Uỷ ban trong xây dựng kế hoạch KHKT gắn với kế hoạch phát triển KTQD, phục vụ kế hoạch phát triển KTQD và tạo điều kiện vật chất để thực hiện kế hoạch KHKT. Một số công tác điều tra nghiên cứu, thí nghiệm của kế hoạch khoa học và kỹ thuật đã thu được kết quả đáng kể như nghiên cứu, thí nghiệm về thời vụ, giống, tưới, bón, phòng trừ sâu bệnh phục vụ thâm canh tăng năng suất lúa và hoa màu, về cải tạo đất bạc màu, chống xói mòn bảo vệ đất đồi núi, về khoan nổ mìn, nhiệt luyện than gầy, về chế tạo một số máy công cụ và phát lực, máy và linh kiện vô tuyến điện, về nhiệt đới hoá thiết bị điện, điện tử và quang học, về chống rung cho máy Lô-cô, máy bơm công suất lớn, về các biện pháp vượt sông thời chiến... đã hoàn thành điều tra tổng hợp vùng biển Vịnh Bắc bộ, phân vùng địa lý tự nhiên miền Bắc Việt Nam, lập bản đồ dân số và dân tộc của từng tỉnh, thành phố và của toàn miền Bắc, đo đạc mạng lưới trắc địa hạng I, hạng II và chụp ảnh địa hình miền Bắc bằng máy bay, điều tra nguồn lợi cá của Vịnh Bắc Bộ, sông Hồng, sông Đáy. Đang xúc tiến các công tác điều tra tổng hợp lưu vực hệ thống sông Hồng, lập bản đồ địa chất tỷ lệ lớn cho 5 vùng của miền Bắc, điều tra tài nguyên thực vật (cây thuốc, cây có dầu, rong biển, cây phân xanh và thức ăn gia súc...) điều tra có hệ thống về chim thú rừng, ký sinh trùng và côn trùng hại cây trồng. Thời kỳ này, Uỷ ban cũng đã chú ý đến công tác bảo vệ thiên nhiên; ngoài việc nghiên cứu thí nghiệm chống xói mòn, bảo vệ đất đồi núi, đề nghị khai thác, sử dụng hợp lý phục hồi tài nguyên thiên nhiên. Uỷ ban còn tổ chức khảo sát, lập bản đồ và tiến hành các thủ tục cần thiết để đề nghị bảo vệ khu rừng Cúc Phương làm khu dự trữ thiên nhiên phục vụ nghiên cứu về sinh vật học và lâm học. Uỷ ban đã tổ chức nhiều Hội nghị KHKT quan trọng nhằm tổng kết tình hình và phổ biến kết quả nghiên cứu như Hội nghị cơ khí toàn miền Bắc, Hội nghị chống xói mòn, bảo vệ đất đồi núi, Hội nghị cơ học đất và nền móng, v.v...
Về Khoa học xã hội, ngoài triển khai việc nghiên cứu biên soạn 4 công trình khoa học cơ bản là Lịch sử Việt Nam, Lịch sử văn học Việt Nam, từ điển tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt, còn dịch song thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, tập thơ Ngục Trung ký sự của Hồ Chủ Tịch, biên soạn xong cuốn lịch sử thủ đô, đã nghiên cứu đặc điểm của chế độ phong kiến Việt Nam, của giai cấp tư sản Việt Nam, đã viết mấy cuốn về cải tạo công thứơng nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp, địa lý kinh tế Miền Bắc và về chuyên chính vô sản, về Triết học phản động ở Miền Nam Việt Nam v.v...
3. Từ đầu năm 1959, Uỷ ban đã đề nghị HĐCP ban hành chỉ thị số 105-TTg ngày 11/3/1959 và chỉ thị số 320-TTg ngày 15/12/1960 về tổ chức và lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến phát minh của quần chúng, đã cùng Tổng công đoàn và Ban thi đua TW nghiên cứu đề nghị HĐCP ban hành điều lệ khen thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất theo Nghị định số 20-CP ngày 8/2/1965. Uỷ ban đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng kỹ thuật, Hội đồng KHKT Bộ, Tổng cục, của Vụ kỹ thuật, Vụ KHKT Bộ, Tổng cục, của Ban kỹ thuật, Ban KHKT Tỉnh, Thành phố để giúp ngành và địa phương thúc đẩy phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và quản lý công tác khoa học và kỹ thuật của ngành và địa phương. Năm 1964, Hội đồng xét duyệt sáng kiến Trung ương đã được thành lập. Bộ phận thường trực của Hội đồng thuộc biên chế của Uỷ ban. Uỷ ban cũng đã hướng dẫn các ngành, các cấp thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến của ngành, của cấp tương ứng. Đã tổ chức một số hội nghị chuyên đề để trao đổi kinh nghiệm và sáng kiến. Cố gắng của Uỷ ban đã góp phần làm cho phong trào sáng kiến phát triển khá nhanh với các phong trào thao diễn kỹ thuật, 3 điểm cao trong công nghiệp và giải phóng đôi vai, làm bèo hoa dâu trong nông nghiệp. Tuy nhiên, do tổ chức và lực lượng giúp Uỷ ban quản lý chỉ đạo công tác này còn yếu nên có ảnh hưởng nhất định đến phong trào phát triển không đều, đến việc xác minh và phổ biến sáng kiến không kịp thời.
Để đáp ứng yêu cầu cấp bách về nâng cao hiểu biết khoa học và kỹ thuật của quần chúng, tháng 5/1959, Ban vận động thành lập Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam được thành lập. Uỷ ban lãnh đạo Ban này một mặt chuẩn bị tổ chức Đại hội thành lập Hội toàn quốc và thúc đẩy việc thành lập tổ chức Hội ở địa phương, một mặt triển khai công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật bằng nhiều hình thức. Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam chính thức thành lập ngày 19/5/1963 do ông Nguyễn Xiển làm chủ tịch, các ông Vũ Đình Tụng, Đặng Minh Trứ , Lê Duy Văn làm Phó chủ tịch. Mạng lưới tổ chức phát triển rộng khắp các tỉnh, thành, xuống huyện, xuống cơ sở sản xuất. Hội tập trung tuyên truyền phổ biến những vấn đề khoa học và kỹ thuật phục vụ các phong trào lớn trong nông nghiệp, công nghiệp và đời sống. Báo Khoa học thường thức được phát hành rộng rãi và được hoan nghênh. Ơ nhiều địa phương, Hội phối hợp tốt với Ban KHKT nên công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật đã góp phần thúc đẩy phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật.
Nắm vững phương châm khoa học phải đi theo đường lối quần chúng và kinh nghiệm lãnh đạo khoa học và kỹ thuật phải dựa vào hai mạng lưới: Mạng lưới các cơ quan nhà nước làm công tác khoa học và kỹ thuật và mạng lưới các Hội quần chúng làm công tác khoa học và kỹ thuật, nên ngoài việc giúp Chính phủ và các Ngành, các địa phươngtổ chức, lãnh đạo phong trào sáng kiến của quần chúng và giúp Ban Bí thư lãnh đạo Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Uỷ ban còn giúp một số Hội khoa học và kỹ thuật chuyên ngành ra đời và hoạt động. Đồng thời Bộ Y tế cũng giúp tổng hội y học và 14 Hội y học chuyên khoa ra đời và hoạt động. Do đó Uỷ ban đã có tờ trình ngày 1/3/1965 đề nghị Ban Bí thư và Chính phủ cho phép tiến hành Đại hội thành lập Hội Liên hiệp khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
4. Tuy nhiệm vụ quản lý đội ngũ cán bộ KHKT chưa được quy định cụ thể, nhưng là cơ quan quản lý thống nhất về khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban thấy mình có trách nhiệm trong việc phát triển và quản lý đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật nhất là đội ngũ có trình độ trên đại học. Cuối năm 1959, Uỷ ban đã tiến hành một đợt điều tra nắm tình hình lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật hiện có và đang được đào tạo, để có cơ sở xây dựng phương hướng phát triển khoa học và kỹ thuật dài hạn, kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5 năm 1961 - 1965, và phương hướng kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật. Đợt điều tra này đã giúp Uỷ ban nắm được tình hình số lượng cán bộ, còn tình hình chất lượng cán bộ thì nắm chưa đầy đủ. Hàng năm Uỷ ban đã góp ý kiến với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Giáo dục về chỉ tiêu và ngành nghề đào tạo cho lưu học sinh và nghiên cứu sinh. Đã cùng Bộ Giáo dục cử gần 700 nghiên cứu sinh, thực tập sinh theo các con đường hợp tác quốc tế khác nhau. Đã tổ chức 3 lớp bồi dưỡng cán bộ triết học, kinh tế học, sử học theo chương trình nghiên cứu sinh, do chuyên gia Liên Xô giảng dạy, cho 260 học viên của Uỷ ban và các cơ quan khác. Tháng 9/1961, Uỷ ban đã họp bàn thống nhất với Bộ Giáo dục về một số nguyên tắc và biện pháp nhằm tăng cường công tác nghiên cứu KHKT của các Trường Đại học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần phục vụ sản xuất trước mắt và phát triển khoa học lâu dài. Sau cuộc họp này, bắt đầu có hình thức các Bộ sản xuất có thể trực tiếp ký kết hợp đồng nghiên cứu với các Trường đại học (qua đó Bộ cung cấp chi phí nghiên cứu và thiết bị, vật tư cần thiết).
5. Về hợp tác quốc tế, Uỷ ban đã ký kết và tổ chức thực hiện các hiệp nghị và kế hoạch hợp tác khoa học và kỹ thuật với hầu hết các nước XHCN, qua đó đã tranh thủ được sự giúp đỡ rất quý của các nước về kinh nghiệm tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật, về xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học, về bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, về tài liệu khoa học và kỹ thuật. Mấy hoạt động quan trọng, nổi bật trong thời kỳ này là:
- Cùng với Uỷ ban kỹ thuật Trung Quốc tổ chức thực hiện tốt 2 đợt điều tra tổng hợp và nguồn lợi cá đáy vùng biển Vịnh Bắc bộ (1959 - 1963)
- Tổ chức làm việc với đoàn khoa học Liên Xô sang Việt Nam đầu năm 1960 để tìm hiểu tình hình và góp ý kiến giúp ta xây dựng, phát triển khoa học và kỹ thuật.
Tháng 4/1961 tổ chức đoàn khoa học Việt Nam sang tìm hiểu tình hình khoa học và kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức, quản lý khoa học và kỹ thuật của Liên Xô, và tranh thủ ý kiến của Uỷ ban khoa học kỹ thuật và các Viện Hàn lâm Liên Xô đối với chương trình dài hạn phát triển khoa học và kỹ thuật, kế hoạch khoa học và kỹ thuật 5 năm 1961 - 1965 của ta.
- Tranh thủ được sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô về xây dựng Viện Liên hợp nghiên cứu khoa học ( giúp thiết kế, giám sát thi công, cung cấp thiết bị toàn bộ, đào tạo cán bộ).
- Đã cử khá nhiều cán bộ sang làm nghiên cứu sinh, thực tập sinh ở các Viện Hàn lâm khoa học và Viện liên hợp nghiên cứu nguyên tử DUPNA, đồng thời đã mời một số chuyên gia cao cấp sang hướng dẫn, bồi dưỡng cán bộ ta ngay trong thực tế công tác điều tra nghiên cứu của kế hoạch khoa học và kỹ thuật hoặc giảng bài cho mấy lớp bồi dưỡng cán bộ khoa học xã hội theo chương trình nghiên cứu sinh - Hình thức trao đổi tương đương (trao đổi cán bộ khoa học với số tuần làm việc tương đương) đối với ta cũng là 1 hình thức bồi dưỡng cán bộ ngắn ngày có hiệu quả mà đỡ tốn ngoại tệ.
- Thời kỳ này có những bất đồng về quan điểm trong phong trào Cộng sản Quốc tế, Uỷ ban đã thực hiện đúng đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và duy trì được quan hệ hợp tác tốt về khoa học và kỹ thuật với các nước Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sự hợp tác về khoa học xã hội thì có dè dặt.
6. Uỷ ban coi trọng công tác quản lý kỹ thuật ngay từ đầu, nhưng phải trải qua một thời gian hoạt động, tìm hiểu, mới nhận rõ dần nội dung và phạm vi trách nhiệm, nên triển khai công tác này có phần chậm trễ. Uỷ ban đã cùng các ngành nghiên cứu, đề nghị HĐCP ban hành "Điều lệ tạm thời về nghiên cứu, xây dựng, xét duyệt, ban hành và quản lý các tiêu chuẩn kỹ thuật của các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp" theo Nghị định 123-CP ngày 24 tháng 8 năm 1963, "Điều lệ tạm thời về nghiên cứu xây dựng, xét duyệt, ban hành và quản lý các quy phạm, quy trình kỹ thuật trong công nghiệp" theo Nghị định 124-CP ngày 24 tháng 8 năm 1963 và "Bảng đơn vị đo lường hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà" theo Nghị định 186-CP ngày 26 tháng 12 năm 1964. Khi mới thành lập, Viện Đo lường - Tiêu chuẩn đã tổ chức biên soạn một số tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm kỹ thuật để các ngành áp dụng tạm thời. Sau khi Chính phủ đã ban hành các điều lệ kể trên, Viện đã tổ chức xây dựng và hướng dẫn xây dựng được 185 tiêu chuẩn Nhà nước, 53 tiêu chuẩn ngành, 350 tiêu chuẩn xí nghiệp và một số quy phạm, quy trình kỹ thuật . Được Công hoà Dân chủ Đức giúp đỡ, trang bị của các Phòng thí nghiệm đo lường của Viện đã được nâng cấp và phát tín hiệu thời gian chính xác trên đài tiếng nói Việt nam. Đã giúp các Bộ Nội thương, ngoại thương, các Thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Tỉnh Nam Hà xây dựng công tác đo lường. Công tác quản lý kỹ thuật của Uỷ ban tiến bộ dần nhưng còn lung túng vì thiếu cán bộ, thiếu cơ sở vật chất, kỹ thuật; chưa tổ chức được công tác kiểm tra chất lượng đồng thời với các công tác tiêu chuẩn hoá và quản lý đo lường.
7. Uỷ ban cũng rất coi trọng công tác thông tin - tư liệu KHKT nhằm phục vụ các công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến KHKT.
Thời kỳ này, mạng lưới thông tin, thư viện chưa hình thành. Thư viện Khoa học TW và Phòng thông tin khoa học vừa làm vừa học, hoạt động nghiệp vụ đi dần vào nề nếp. Hàng năm, phòng thông tin khoa học và thư ký vụ Ban khoa học nông nghiệp đã tổ chức biên soạn và xuất bản đều đặn 16 tập thông tin KHKT chuyên ngành: Mỏ, xây dựng, cơ khí, luyện kim, điện, vô tuyến điện, công nghiệp nhẹ, kỹ thuật nhiệt đới, sinh vật, vật lý, hoá học, nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, thú y, y dược. Cán bộ thông tin chịu khó đi về các cơ sở để tìm hiểu yêu cầu thực tế và đưa sản phẩm thông tin đến phục vụ. Thư viện Khoa học TW đã cố gắng phát triển nhanh vốn tư liệu bằng nhiều biện pháp (đặt mua, trao đổi, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức khoa học nước ngoài), đã cung cấp nhiều thông tin tư liệu quý cho công tác điều tra, nghiên cứu của các Viện, Trường, cho đấu tranh thống nhất nước nhà.
Các nhà xuất bản khoa học, văn học, sử học đã hoàn thành kế hoạch xuất bản sách hàng năm, đã xuất bản đều đặn các tạp chí của Uỷ ban và của các Viện, các Ban:
Tạp chí tin tức hoạt động khoa học nhằm phổ biến các đường lối, chủ trương phát triển KHKT của Đảng và Nhà nước, phản ánh các hoạt động KHKT của Uỷ ban và của các ngành, các cấp.
Các tạp chí Nghiên cứu văn học, nghiên cứu sử học, nghiên cứu kinh tế, những vấn đề Triết học, toán lý, sinh vật - địa học, KHKT nhằm thông báo các hoạt động và các kết quả điều tra, nghiên cứu của các ngành khoa học - kỹ thuật đó.
Việc dùng tiếng Việt để trình bày diễn giải rõ ràng, chính xác mọi vấn đề KHKT có ý nghĩa rất lớn về Chính trị và thực tiễn, nên Uỷ ban đã tích cực triển khai việc xây dựng thống nhất các thuật ngữ KHKT, Thư ký vụ các Ban khoa học và Phòng thuật ngữ KHKT đã tập hợp đông đảo cán bộ KHKT của các ngành, biên soạn được hàng chục vạn thuật ngữ KHKT theo những nguyên tắc thống nhất.
8. Năm 1965, Đế quốc Mỹ đem quân trực tiếp xâm lược miền Nam, ném bom đánh phá miền Bắc, dưới ánh sáng của Nghị quyết, Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 11, ngày 27 tháng 4 năm 1965, Uỷ ban đã họp bàn với các ngành về chủ trương duy trì và chuyển hướng công tác KHKT trước tình hình và nhiệm vụ mới, nhằm tập trung phục vụ quốc phòng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, phục vụ sản xuất và đời sống ở các vùng, các địa phương. Trong cuộc họp này các Bộ nhất trí đề nghị Uỷ ban làm đầu mối liên hệ với Bộ Quốc phòng để nhận và phân phối các nhiệm vụ phục vụ quốc phòng cho các ngành, các cơ quan. Uỷ ban cũng đã chuẩn bị nội dung cho Hội nghị KHKT địa phương mà Uỷ ban sẽ triệu tập vào đầu năm 1966.
Trong tháng 5/1965, Uỷ ban đã trao đổi ý kiến thêm trong tập thể lãnh đạo Uỷ ban về đề nghị tách UBKHNN thành 2 cơ quan. Tổ chức và hoạt động của UBKHNN đã phát triển, sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội đang đòi hỏi phát triển mạnh các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, ai cũng thấy cần và có thể tách UBKHNN thành 2 cơ quan. Nhưng tách như thế nào thì có 2 phương án khác nhau :
a) Thành lập Uỷ ban kỹ thuật Nhà nước (chức năng quản lý kỹ thuật và nghiên cứu đề xuất các đường lối, chủ trương về cách mạng kỹ thuật) và Viện Khoa học Việt Nam (chức năng nghiên cứu về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và kỹ thuật cơ bản).
b) Thành lập Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước (chức năng quản lý và nghiên cứu về KHTN và KHKT) và Viện khoa học xã hội Việt nam (chức năng nghiên cứu về khoa học xã hội).
Các thành viên Uỷ ban phần nhiều thấy nên tách theo phương án thứ hai vì cơ sở nghiên cứu KHTN và KHKT còn ít, công tác quản lý kỹ thuật mới bắt đầu xây dựng, vả lại về KHTN và KHKT nên thống nhất quản lý từ nghiên cứu đến áp dụng vào sản xuất cho thuận tiện.
Uỷ ban khoa học Nhà nước là mô hình tổ chức quản lý khoa học kỹ thuật khá độc đáo, không rập khuôn theo các nước XHCN anh em. Chức năng, nhiệm vụ được giao thì rộng, phức tạp, nhưng nội dung cụ thể chưa rõ, nghiệp vụ chưa tường, cán bộ lúc đầu mới có dăm người.
Thời kỳ này là thời kỳ Uỷ ban vừa làm vừa xây dựng tổ chức, vừa chuẩn bị cán bộ, vừa làm vừa học, vừa rút kinh nghiệm. Tuy có nhiều khó khăn lúng túng, nhưng được Đảng và Chính phủ quan tâm lãnh đạo, được các ngành, các địa phương, các cán bộ khoa học và kỹ thuật ủng hộ nên hoạt động của Uỷ ban cũng có thuận lợi và đạt được một số kết quả bước đầu kể trên, qua thực tế công tác, Uỷ ban đã nhận thức rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và nội dung công tác của Uỷ ban. Từ khi mới thành lập, Uỷ ban đã bắt tay ngay vào việc nghiên cứu, đề nghị những phương châm, nhiệm vụ khoa học phù hợp với tình hình nước ta lúc đó, vào việc tổ chức, quản lý công tác kế hoạch hoá khoa học và kỹ thuật, tổ chức, lãnh đạo công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật và phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất. Uỷ ban coi trọng việc tập hợp lực lượng khoa học và kỹ thuật, tập hợp trí tuệ của cán bộ khoa học và kỹ thuật qua tổ chức và hoạt động của các Ban khoa học, các Hội khoa học, qua các hội nghị khoa học và kỹ thuật quan trọng. Uỷ ban quan tâm và cố gắng nhiều trong việc xây dựng và phát triển công tác quản lý kỹ thuật, trong việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật như xây dựng những cơ sở nghiên cứu khoa học trực thuộc chuẩn bị cho Viện Khoa học Việt Nam sau này, bồi dưỡng đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật, phát triển công tác hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài, và công tác thông tin - tư liệu khoa học và kỹ thuật. Nói chung Uỷ ban đã thiết lập được quan hệ hợp tác tốt đã giành được tín nhiệm và có tác dụng hướng dẫn, thúc đẩy, điều hoà phối hợp công tác khoa học và kỹ thuật của các ngành, các địa phương. Tuy nhiên Uỷ ban còn phải đồng thời xây dựng và phát triển các cơ quan nghiên cứu trực thuộc nên các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật của Uỷ ban chưa được tăng cường thích đáng, do đó việc hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương còn hạn chế, công tác quản lý KHKT của Uỷ ban còn nhiều lĩnh vực chưa được thể chế hoá, nhất là quản lý kế hoạch KHKT, và nói chung chưa đáp ứng kịp yêu cầu của nhiệm vụ và của đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật số lượng ngày càng đông, trình độ ngày càng cao.
Thời kỳ Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và nghiên cứu khoa học - kỹ thuật (chỉ bao gồm khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật) trong hoàn cảnh đất nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
Thất bại trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới và "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, đế quốc Mỹ từ năm 1965 đã chuyển sang trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam, và chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Nhiệm vụ của miền Bắc lúc này chẳng những phải tăng cường chi viện nhân tài, vật lực cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược mà còn phải vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại vừa phát triển sản xuất, bảo đảm đời sống, không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Tình hình khoa học - kỹ thuật của miền Bắc lúc này đã có những tiến bộ rõ rệt : Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật đã lớn mạnh hơn nhiều, các cơ sở nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp đã tăng hơn; các công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật cũng như phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học - kỹ thuật đã được mở rộng hơn. Tuy nhiên so với yêu cầu to lớn của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì lực lượng và khả năng khoa học - kỹ thuật của ta còn rất hạn chế. Hoạt động khoa học - kỹ thuật trong điều kiện chiến tranh còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn.
Trong hoàn cảnh chống Mỹ cực kỳ gay go, ác liệt, với niềm tin vững chắc ở thắng lợi cuối cùng, Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chỉ đạo kịp thời việc chuyển hướng và tăng cường công tác khoa học và kỹ thuật nhằm phục vụ sản xuất, chiến đấu, đời sống trước mắt và chuẩn bị phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với quy mô lớn, trình độ cao sau khi chiến thắng đế quóc Mỹ - Uỷ ban thường vụ quốc hội đã ra quyết định số 165 NQ/TVQH ngày 11 tháng 10 năm 1965 về việc phân Uỷ ban Khoa học Nhà nước thành 2 cơ quan: Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước và Viện khoa học xã hội Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và phát triển cả khoa học tự nhiên và kỹ thuật lẫn khoa học xã hội và nhân văn. Hội đồng chính phủ đã ra chỉ thị số 163 CP ngày 1/9/1966 về phương hướng nhiệm vụ công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật 2 năm 1966-1967. Ban bí thư đã ra quyết định số 157 NQ/TW ngày 22 tháng 2 năm 1967 về tăng cường công tác khoa học và kỹ thuật trong tình hình và nhiệm vụ mới.
Nghị quyết quan trọng này sau khi đánh giá tình hình khoa học - kỹ thuật và lãnh đạo, chỉ đạo công tác KH-KT, nêu rõ yêu cầu đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật, đã đề ra hai nhiệm vụ lớn của KH-KT là phục vụ đắc lực cuộc cách mạng kỹ thuật trong thời chiến và tích cực chuẩn bị để phục vụ đắc lực cuộc cách mạng kỹ thuật trên quy mô lớn, với trình độ cao, trong phạm vi cả nước sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc thắng lợi và sự phân công, phối hợp thực hiện những nội dung cụ thể của hai nhiệm vụ đó. Nghị quyết khẳng định vai trò của UBKHKTNN là cơ quan tham mưu của Đảng và Chính phủ về công tác KH-KT, là cơ quan giúp Đảng và Chính phủ thống nhất quản lý công tác khoa học kỹ thuật, cần tích cực tăng cường lực lượng cho Uỷ ban để Uỷ ban có thể làm tốt những nhiệm vụ cơ bản của mình. Nghị quyết cũng yêu cầu các cấp uỷ Đảng các cấp lãnh đạo cơ quan Nhà nước và đoàn thể quần chúng, tăng cường lãnh đạo công tác khoa học kỹ thuật trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ngày 27 tháng 5 năm 1967 HĐCP đã ban hành Nghị định 67/CP về chức năng nhiệm vụ và tổ chức của UBKHKTNN.
A. Chức năng, nhiệm vụ của UBKHKTNN :
Theo Nghị định số 67/CP ngày 27/5/1967, "Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm vừa quản lý thống nhất và tập trung công tác khoa học và kỹ thuật vừa làm công tác của một Viện nghiên cứu khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật) của Nhà nước theo đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta một cách tốt nhất và nhanh nhất, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà".
Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước có nhiệm vụ:
1. Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ quyết định các phương hướng, chính sách, chế độ, thể lệ về khoa học và kỹ thuật và các quy hoạch, kế hoạch nghiên cứu khoa học.
2. Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ ban hành các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật của Nhà nước.
3. Tổ chức quản lý các công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và các sáng chế, phát minh bao gồm các việc đăng ký, đánh giá, khen thưởng, áp dụng vào sản xuất, gìn giữ bí mật Nhà nước. Tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm lớn của quần chúng.
4. Cùng với các ngành, các địa phương xây dựng hệ thống cơ sở nghiên cứu. Xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học trực thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước để tạo điều kiện tiến tới thành lập Viện KHVN (khoa học tự nhiên và kỹ thuật).
5. Cùng với Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ quyết định phương hướng, quy hoạch đào tạo cán bộ khoa học và kỹ thuật.
6. Tổ chức công tác thông tin, tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và áp dụng khoa học và kỹ thuật, bao gồm:
- Thu thập, gìn giữ, sắp xếp, khai thác, phổ biến các tài liệu về thành tựu khoa học và kỹ thuật ở trong nước và nước ngoài.
- Tổ chức và quản lý hệ thống thư viện khoa học và kỹ thuật trong cả nước.
- Xuất bản các sách báo, tập san và tài liệu khoa học và kỹ thuật.
7. Thống nhất quản lý công tác cung cấp, điều hoà phân phối các vật tư chủ yếu cho công tác nghiên cứu và thí nghiệm khoa học và kỹ thuật.
8. Mở rộng hợp tác khoa học và kỹ thuật với các nước XHCN anh em và trao đổi khoa học và kỹ thuật với các nước khác nhằm nhanh chóng áp dụng những thành tựu mới về khoa học và kỹ thuật của nước ngoài vào Việt Nam.
9. Giúp đỡ các tổ chức khoa học và kỹ thuật của quần chúng nhằm thúc đẩy phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học và kỹ thuật phục vụ cuộc cách mạng kỹ thuật theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
10. Quản lý tổ chức, cán bộ, lao động tiền lương, tài vụ, vật tư, tài sản trong cơ quan, đơn vị thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước theo chế độ chung của Nhà nước.
11. Để thực hiện các nhiệm vụ trên đây, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với các ngành, các đoàn thể, các địa phương, Uỷ ban nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ quy định những mối quan hệ cụ thể giữa Uỷ ban và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Uỷ ban hành chính địa phương, các cơ quan quản lý và nghiên cứu khoa học và kỹ thuật ở các ngành, các cấp.
Thời kỳ này, chức trách của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, về quản lý cũng như nghiên cứu, được tập trung vào các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, và được xác định rõ là quản lý tập trung thống nhất công tác khoa học và kỹ thuật, do đó nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban về quản lý các công tác cán bộ, vật tư, thông tin thư viện và hợp tác khoa học và kỹ thuật cũng được quy định rõ hơn trước. Theo Nghị quyết 157-NQ/TW, Ban bí thư phân công, về các công việc phục vụ cách mạng kỹ thuật trong thời chiến thì các ngành, các địa phương chịu trách nhiệm chính, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chịu trách nhiệm điều hoà, phối hợp; về các công việc chuẩn bị phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến tranh như tìm hiểu những thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới, xây dựng phương hướng quy hoạch phát triển công tác khoa học và kỹ thuật, phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật thì Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chịu trách nhiệm chính. Trước yêu cầu tăng cường quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản, ngày 13 tháng 1 năm 1970, HĐCP đã có quyết định số 08/CP thành lập Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản và quy định UBKHKTNN là cơ quan thường trực của Hội đồng và chủ nhiệm UBKHKTNN là Chủ tịch Hội đồng.
B. Cơ cấu tổ chức của UBKHKTNN :
1. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước : Không còn một tập thể lãnh đạo như Uỷ ban Khoa học Nhà nước trước đây, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước được tổ chức và làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp với bàn bạc tập thể, chủ nhiệm Uỷ ban chịu trach nhiệm trước Quốc hội và Hội đồng Chính phủ về toàn bộ công tác của Uỷ ban.
Chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban thời kỳ này do ông Trần Đại Nghĩa, Chủ nhiệm Uỷ ban kiến thiết cơ bản Nhà nước kiêm nhiệm. Các Phó chủ nhiệm chuyên trách: ông Trần Quỳnh và ông Lê Khắc. Các uỷ viên chuyên trách: ông Nguyễn Văn Biên và ông Nguyễn Văn Hiệu (từ năm 1969).
2. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật :
a. Các cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật theo ngành năm 1967 được phân từ 7 Ban thành 17 Ban : Ban toán học, Ban cơ học, Ban vật lý, Ban hóa học, Ban sinh vật, Ban địa học, Ban kỹ thuật công nghiệp nhẹ, Ban điện lực, Ban vô tuyến điện, Ban cơ khí, Ban luyện kim, Ban mỏ, Ban kiến trúc - xây dựng, Ban giao thông, Ban thuỷ lợi, Ban nông - lâm nghiệp, Ban y học.
Danh sách các uỷ viên Ban do Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước đề nghị, Thủ tướng xét duyệt.
Bộ máy điều hành công việc của Ban là Thư ký vụ do 1 Uỷ viên Ban, tương đương cấp vụ, phụ trách.
b. Các cơ quan quản lý kỹ thuật:
Năm 1971, thành lập Cục kiểm tra chất lương sản phẩm và hàng hoá; Viện Đo lường và tiêu chuẩn được phân thành Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn; Năm 1975 Viện Đo lường và Viện Tiêu chuẩn được đổi tên thành Cục Đo lường và Cục Tiêu chuẩn cho phù hợp với chức năng quản lý hơn.
3. Các cơ quan quản lý và hành chính sự nghiệp khác :
Văn phòng UBKHKTNN, Vụ tổng hợp - kế hoạch, Vụ tổ chức - cán bộ, Vụ thông tin và hợp tác quốc tế, Cục vật tư, Cục kiến thiết cơ bản, Thư viện khoa học và kỹ thuật trung ương, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Phòng sáng chế - phát minh, Tổ xét duyệt trữ lượng khoáng sản, Ban thanh tra (thành lập tháng 8 năm 1974).
4. Các cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật:
- Viện Nghiên cứu khoa học tự nhiên thành lập năm 1967.
- Viện Vật lý, tách khỏi Viện nghiên cứu khoa học tự nhiên từ tháng 2 năm 1969.
- Viện Toán học thành lập tháng 2/1969.
- Viện nghiên cứu biển thành lập năm 1967.
- Phòng Cơ học tách khỏi Viện nghiên cứu khoa học tự nhiên từ tháng 8 năm 1969.
- Phòng Hoá hợp chất tự nhiên.
- Phòng Máy tính.
- Bộ phận công tác ở Viện DUPNA.
Theo Nghị định 67/CP trong tổ chức của UBKHKTNN còn có Viện Nghiên cứu kỹ thuật cơ bản. Uỷ ban đã chuẩn bị được 31 cán bộ về Vô tuyến điện, mỏ, Luyện kim, Hoá học và giao cho các Ban có liên quan tạm thời quản lý, đến năm 1970 - 1971, vừa có chủ trương giảm biên chế vừa thấy chưa thật cần thiết thành lập Viện này, Uỷ ban đã chuyển số cán bộ này đi làm việc khác.
Tình hình tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước trong thời kỳ này có nhiều diễn biến quan trọng:
Các Ban khoa học có thời gian được coi hầu như chỉ là cơ quan tham mưu với nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị phương hướng, chủ trương phát triển khoa học và kỹ thuật, điều hoà phối hợp công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, tổ chức sinh hoạt học thuật, chăm lo nội dung cho các tập san khoa học và góp ý kiến với các cơ quan quản lý theo lĩnh vực, khi cần thiết, về các mặt cán bộ, vật tư, hợp tác quốc tế, quản lý kỹ thuật, v.v... Còn nhiệm vụ quản lý khoa học, quản lý kỹ thuật và tổng hợp thì tập trung vào Vụ Tổng hợp - Kế hoạch, sau thấy quá nặng không làm nổi nên Vụ Tổng hợp - Kế hoạch được chuyển thành Vụ Quản lý khoa học và Vụ Quản lý kỹ thuật; sau một thời gian hoạt động, thấy quản lý tách rời khoa học và kỹ thuật không thích hợp, hai Vụ này được nhập lại thành Vụ Quản lý khoa học và kỹ thuật. Đến năm 1972, các Ban được khẳng định lại là cơ quan quản lý khoa học và kỹ thuật theo ngành, và để việc phối hợp giữa các Ban thuận lợi hơn đồng thời việc chỉ đạo của Uỷ ban giảm bớt đầu mối nên đã hình thành năm khối Ban khoa học, có thể coi như tiền thân của các Vụ quản lý khoa học và kỹ thuật theo ngành sau này: Khối khoa học cơ bản, Khối công nghiệp, Khối nông sinh y, Khối xây dựng cơ bản, Khối điều tra cơ bản và bảo vệ thiên nhiên.
Vụ Tổng hợp - kế hoạch cũng được lập lại như Nghị định số 67-CP đã quy định.
Năm 1972, Vụ Thông tin và hợp tác quốc tế được phân thành 2 cơ quan: Vụ hợp tác khoa học và kỹ thuật với nước ngoài và Viện thông tin khoa học và kỹ thuật Trung ương, để phát triển mạnh cả 2 lĩnh vực công tác quan trọng này.
Từ cuối năm 1971, để đẩy nhanh việc chuẩn bị lực lượng cho Viện khoa học Việt Nam đồng thời để đỡ phân tán trong chỉ đạo của Uỷ ban, Uỷ ban đã có tờ trình đề nghị Hội đồng Chính phủ tách các cơ quan nghiên cứu ra khỏi Uỷ ban và thành lập Viện khoa học Việt Nam. Trong khi chờ đợi quyết định của Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban đã tổ chức bộ máy của mình thành 2 khối: khối quản lý và khối nghiên cứu, và xây dựng quy chế làm việc thích hợp.
Qua những diến biến kể trên, chúng ta thấy Uỷ ban có lúng túng trong tổ chức bộ máy quản lý khoa học kỹ thuật của mình và chúng ta có thể rút được một bài học kinh nghiệm về vận dụng nguyên tắc "trước hợp sau phân" như thế nào cho hợp lý.
C. Những chủ trương và hoạt động chính của UBKHKTNN:
Thời kỳ này, trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, các cơ quan, xí nghiệp phải sơ tán, phân tán, hoạt động khoa học và kỹ thuật cũng như hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chủ trương một mặt hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương duy trì, và chuyển hướng các hoạt động khoa học và kỹ thuật cho phù hợp với chủ trương chuyển hướng kinh tế của Đảng, đồng thời điều hoà phối hợp lực lượng nghiên cứu giải quyết dứt điểm một số vấn đề, đề tài cấp thiết đối với sản xuất chiến đấu và đời sống trước mắt, mặt khác xúc tiến công việc chuẩn bị phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến tranh như tổ chức xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn phát triển khoa học và kỹ thuật, phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật, tổ chức tiến hành một số công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và quản lý kỹ thuật có ý nghĩa lớn và lâu dài đối với kinh tế quốc dân.
1. Thời kỳ này, Uỷ ban đã dành nhiều thời giờ và lực lượng vào việc nghiên cứu đường lối chủ trương, chính sách phát triển khoa học và kỹ thuật trước mắt cũng như lâu dài để làm tham mưu cho Đảng và Chính phủ.
Năm 1966, đã chuẩn bị cho Hội đồng Chính phủ ra chỉ thị số 163 CP về phương hướng nhiệm vụ công tác khoa học và kỹ thuật 2 năm 1966 - 1967, cho Ban bí thư ra Nghị quyết 157 NQ/TW về tăng cường công tác khoa học và kỹ thuật trong tình hình và nhiệm vụ mới. Chỉ thị và Nghị quyết quan trọng này đã có tác dụng lãnh đạo, chỉ đạo rất lớn đối với việc chuyển hướng hoạt động khoa học - kỹ thuật của các ngành, các cấp. Trong 2 năm 1966 - 1967, Uỷ ban đã cùng các Bộ chủ chốt xây dựng quy hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật ở nước ta (các Bộ làm đề án ngành, Uỷ ban làm đề án tổng hợp). Tham gia nghiên cứu có hầu hết cán bộ giỏi nhất của các ngành. Trong quá trình dự thảo, có trao đổi ý kiến với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước để quy hoạch khoa học và kỹ thuật ăn khớp với quy hoạch kinh tế. Tháng 8/1967, Uỷ ban đã báo cáo lên Bộ chính trị kết quả bước đầu nghiên cứu quy hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật bao gồm những quan điểm cơ bản về phát triển khoa học - kỹ thuật, phương hướng chung và phương hướng cụ thể của cách mạng KH-KT (đổi cách mạng kỹ thuật thành cách mạng KH-KT), những phương hướng phát triển KH-KT, phát triển tiềm lực KH-KT và vấn đề quản lý Nhà nước về KH-KT. Sau đó, Uỷ ban tiếp tục tổ chức nghiên cứu hoàn chỉnh dự thảo quy hoạch và tháng 2 năm 1975, Uỷ ban đã trình Bộ Chính trị văn bản kiến nghị những quan điểm, phương châm, phương hướng, biện pháp lớn về phát triển khoa học và kỹ thuật ở nước ta. Hồi đó do bận tập trung chỉ đạo chiến tranh giải phóng miền Nam, Bộ Chính trị chưa cho ý kiến ngay đối với văn kiện này.
2. Từ năm 1967, theo chỉ thị của Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước tạm ngừng việc xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm của Nhà nước và chuyển sang góp ý kiến cho kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm của các Bộ, Tổng cục và góp ý kiến với Bộ Tài chính về cấp phát kinh phí cho nghiên cứu khoa học và kỹ thuật. Sau khi có chủ trương chuyển hướng hoạt động khoa học - kỹ thuật, các Bộ đã sửa đổi khá nhiều kế hoạch KH-KT, tập trung vào phục vụ yêu cầu trước mắt là chính. Nhiều Viện, trường nhận thêm những đề tài nghiên cứu giải quyết một số vấn đề kỹ thuật cấp bách cho Quốc phòng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc... Đến năm 1971, Uỷ ban lại tiếp tục tổ chức xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm của Nhà nước, tập trung vào 1 số vấn đề, đề tài lớn mà Nhà nước cần quản lý. Công tác kế hoạch tiến bộ hơn thời kỳ đầu một bước. Về nội dung, kế hoạch bám sát các yêu cầu sản xuất, chiến đấu và đời sống trước mắt đồng thời chú ý một số vấn đề có tính chất lâu dài. Kế hoạch bắt đầu đề ra những tiến bộ khoa học và kỹ thuật cần đưa vào sản xuất nhưng vẫn chưa tổng hợp cân đối được các nhu cầu về cán bộ, vật tư, tài chính... Việc xét duyệt kế hoạch khoa học và kỹ thuật vẫn muộn so với kế hoạch kinh tế; nắm tình hình thực hiện kế hoạch khoa học và kỹ thuật vẫn chưa được chắc.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, công tác nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, trong cơ xưởng thường gặp nhiều khó khăn, nhưng công tác điều tra cơ bản, công tác thí nghiệm trên thực địa cũng như công tác nghiên cứu dựa vào tài liệu thu thập được vẫn có thể xúc tiến, còn cán bộ khoa học - kỹ thuật thì nhiệt tình hăng hái muốn đóng góp cho kháng chiến chống Mỹ cứu nước bằng hoạt động khoa học kỹ thuật của mình. Công tác điều tra, nghiên cứu của các ngành, các địa phương cũng như của các cơ sở thuộc UBKHKTNN vẫn được duy trì, có phần được đẩy mạnh. Các kết quả điều tra, nghiên cứu (bao gồm cả các kết quả điều tra, nghiên cứu của các Viện, phòng thuộc UBKHKTNN) đã góp phần đáng kể vào phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống trước mắt đồng thời chuẩn bị phục vụ cho các yêu cầu lâu dài sau này.
Về khoa học xã hội, đã tiếp tục thực hiện 4 công trình khoa học cơ bản đề ra từ thời kỳ 1959 - 1965 (Lịch sử Việt Nam, lịch sử văn học Việt Nam, từ điển tiếng Việt, Ngữ pháp tiếng Việt). Ngoài ra còn tiến hành nghiên cứu những vấn đề cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thông nhất đất nước, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa mang bản sắc Việt Nam.
Về khoa học nông nghiệp, đã nghiên cứu áp dụng thành công nhiều biện pháp thâm canh tăng năng suất một số cây trồng vật nuôi chính như lúa, khoai, chè, lạc, đậu tương, lợn, gà... Điển hình nhất là tỉnh Thái Bình đã đạt chỉ tiêu 5 tấn/ha gieo trồng nhờ chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, áp dụng nhiều giống lúa mới năng suất cao và những biện pháp thâm canh thích hợp, cải tiến kỹ thuật sản xuất đi đôi với cải tiến quản lý hợp tác xã.
Về khoa học kỹ thuật, đã nghiên cứu đặc tính của một số nguyên liệu thực vật, khoáng vật Việt Nam có nhiều và phương án khai thác chế biến, sử dụng hợp lý nhằm giải quyết khó khăn về nguyên vật liệu trong sản xuất và xây dựng. Đã nghiên cứu giải quyết những vấn đề tồn tại trong công nghệ đúc và kỹ thuật gá lắp, đã nghiên cứu áp dụng một số công nghệ tiên tiến như mạ phun kim loại, hàn dập thể tích, luyện kim bột... Đã nghiên cứu phục hồi chi tiết mòn và sản xuất phụ tùng thay thế cho các thiết bị vận chuyển, khai thác than, điện... Đã cơ giới hoá một số khâu lao động nặng nhọc trong sản xuất công, nông nghiệp, giao thông, xây dựng như nạo vét kênh mương, cầy bừa, gặt lúa, bốc dỡ hàng hoá... Đã nghiên cứu đề ra những giải pháp cải tiến việc cung cấp, sử dụng nguồn năng lượng hiện có và lập quy hoạch phát triển năng lượng trên cơ sở than và thuỷ năng. Đã nghiên cứu thiết kế định hình những kết cấu lắp ghép cho nhà ở, nhà kho, áp dụng các biện pháp thi công nhanh, thi công trong mùa mưa...
Về khoa học y dược, đã điều tra nghiên cứu về đặc điểm cơ thể và điều kiện sinh hoạt của người Việt Nam, về tỷ lệ các bệnh tật trong nhân dân, nghiên cứu các biện pháp phòng chữa các bệnh phổ biến có ảnh hưởng nhiều đến lao động sản xuất, đến tỷ lệ tử vong của sản phụ và trẻ sơ sinh, nghiên cứu các tiêu chuẩn ăn ở thích hợp với điều kiện khí hậu, điều kiện lao động của nhân dân ta. Đã nghiên cứu sản xuất một số thuốc chủ yếu từ nguyên liệu thực vật trong nước. Đã coi trọng kết hợp Đông Tây y trong phòng và chữa bệnh.
Về khoa học tự nhiên, các ngành toán, cơ, lý, hoá ngoài nghiên cứu có kết quả bước đầu một số vấn đề lý thuyết còn tham gia giải quyết nhiều vấn đề thực tế như áp dụng vận trù học trong cửa hàng mậu dịch, phương pháp PERT trong thi công xây dựng cơ bản, thống kê xác suất trong kiểm tra chất lượng sản phẩm, sử dụng Máy tính điện tử vào giải quyết những bài toán phức tạp về tưới tiêu, dự báo thời tiết, thiết kế công trình, quy hoạch rừng... tính toán thiết kế các cấu kiện xây dựng, chống rung cho móng máy, móng cầu, truyền sóng nổ trong đất; tinh chế xê len, chế tạo một số linh kiện điện tử, phân tích mẫu vật bằng phương pháp quang phổ và vật lý hạt nhân, tinh chế dầu hồi, chế tạo sơn chống rỉ, phương pháp mạ kền, mạ kẽm, biện pháp chống mốc cho các thiết bị điện, điện tử, quang học...
Đã hoàn thành điều tra cơ bản côn trùng hại cây trồng ở các nông, lâm trường, điều tra cơ bản các động vật hoang dại và ký sinh trùng ở miền Bắc, điều tra cơ bản tập đoàn cây phân xanh họ đậu, điều tra xác định các cây ăn được và cây làm thuốc ở vùng rừng núi miền Trung, miền Nam phục vụ bộ đội hoạt động ở chiến trường. Đã thí nghiệm phát triển bèo dâu mùa hè, nhân giống khoai tây bằng hạt, nhân nhanh giống dứa, nghiên cứu vấn đề quang hợp với năng suất cây trồng, đặc điểm sinh lý của người Việt Nam, đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam. Đã thí nghiệm dùng biện pháp sinh học để tổng hợp protein và enzym, để diệt côn trùng và ký sinh trùng.
Đã hoàn thành bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000, tiến hành nghiên cứu, địa chất trung sinh đại phục vụ tìm kiếm dầu khí. Tiến hành đo đạc, ghi chép các số liệu về địa chấn, các biến thiên của từ trường, áp dụng phương pháp từ điện đất để nghiên cứu cấu trúc sâu của một số vùng địa chất. Đã nghiên cứu được một số đặc điểm và quy luật của một số yếu tố khí tượng thuỷ văn phục vụ sản xuất và giao thông vận tải.
Đã hoàn thành xử lý các kết quả điều tra tổng hợp vùng biển vịnh Bắc Bộ, hoàn thành biên soạn cuốn phân vùng tự nhiên miền Bắc Việt Nam, đã tiến hành biên soạn cuốn địa lý Việt Nam, tiến hành nghiên cứu tổng hợp nhằm sử dụng hợp lý đất đai vùng đồi núi thấp miền Trung du Bắc Bộ.
3. Thời kỳ này, Phòng sáng chế - phát minh được thành lập đã giúp UBKHKTNN thức đẩy phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất của quần chúng và quản lý hoạt động này có phần chặt chẽ hơn. Từ năm 1966 đến năm 1972, Uỷ ban hướng phong trào vào khắc phục những khó khăn trong sản xuất, giao thông vận tải thời chiến, từ năm 1973 đến năm 1976, hướng vào tìm biện pháp ổn định sản xuất, bảo đảm chất lượng sản phẩm. Uỷ ban đã có thông tư hướng dẫn thực hiện điều lệ khen thưởng sáng kiến của Hội đồng Chính phủ, đã mở nhiều lớp huấn luyện nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách quản lý sáng kiến của các ngành, các địa phương đã phối hợp với Bộ Lao động, Tổng liên đoàn lao động, Ban thi đua TW v.v... tổ chức một số Hội nghị tổng kết công tác sáng kiến và khen thưởng những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng kiến. Tuy nhiên việc tính toán hiệu quả kinh tế của sáng kiến còn lúng túng, nhiều khi chỉ là áng chừng, do đó mức khen thưởng không phù hợp với giá trị của sáng kiến; nhiều sáng kiến tốt chưa được xác minh, đánh giá, phổ biến áp dụng kịp thời.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, hoạt động của Hội phổ biến khoa học - kỹ thuật gặp nhiều khó khăn tác dụng giảm sút. Ban bí thư đã ra Nghị quyết số 218 NQ/TW ngày 21/7/1971 về việc giải thể Hội. Từ đó, việc phổ biến sẽ do các tổ chức khoa học kỹ thuật đảm nhiệm, việc liên lạc quốc tế với danh nghĩa của Hội phổ biến KHKT Việt nam tiếp tục duy trì với danh nghĩa Liên hiệp các Hội KHKT Việt nam do Đảng đoàn UBKHKTNN phụ trách.
4. Trong hoàn cảnh cơ quan, xí nghiệp phân tán, sơ tán, nề nếp quản lý kỹ thuật của các ngành, các cơ sở rất khó duy trì. Uỷ ban vẫn cố gắng tổ chức nhiều Hội nghị Phổ biến và triển lãm lưu động ở các tỉnh, thành phố để tuyên truyền cho công tác tiêu chuẩn hoá và quản lý đo lường. Uỷ ban vẫn tổ chức các lớp học nghiệp vụ tiêu chuẩn, đo lường, đã đào tạo hàng trăm kiểm định viên đo lường cho các tỉnh, thành phố, đồng thời cử hàng chục cán bộ của Uỷ viên sang học tập nâng cao nghiệp vụ ở các nước XHCN. Năm 1968, sau khi Đế quốc Mỹ bắt buộc phải chấm dứt ném bom miền Bắc, Uỷ ban đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 55 TTg/VG ngày 23 tháng 6 năm 1969 về khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý kỹ thuật trong thời chiến. Uỷ ban đã tổ chức nắm tình hình các cơ sở sản xuất và dự thảo quy chế quản lý kỹ thuật trong xí nghiệp công nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp - Uỷ ban đã chuẩn bị cho Hội đồng Chính phủ ban hành các Điều lệ về quản lý đo lường (Theo Nghị định 216-CP và 217-CP ngày 25 tháng 9 năm 1973) về tiêu chuẩn hoá và kiểm tra chất lượng sản phẩm ở xí nghiệp công nghiệp (Theo Nghị định 290-CP ngày 30 tháng 12 năm 1974 và 26-CP ngày 21 tháng 2 năm 1974) và các chỉ thị 159-TTg ngày 7 tháng 7 năm 1973 và 228-TTg ngày 21 tháng 9 năm 1974 về quản lý chất lượng sản phẩm, do đó đã tăng cường 1 bước pháp chế quản lý kỹ thuật. Uỷ ban đã hướng dẫn, giúp đỡ các ngành, các địa phương xây dựng các công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Bản thân Uỷ ban đã tổ chức xây dựng và ban hành 1500 TCVN (tính đến hết năm 1973) và hàng năm tổ chức kiểm định, sửa chữa được khoảng 300 thiết bị, dụng cụ đo lường. Tháng 4 năm 1972, Hội nghị và triển lãm 10 năm tiêu chuẩn hoá đã được tổ chức tại Hà Nội và đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác tiêu chuẩn hoá phục sản xuất cơ khí hoá, sản xuất hàng loạt, sản xuất lớn XHCN. Công tác quản lý kỹ thuật tuy được tăng cường hơn trước, nhưng kiểm tra việc áp dụng các tiêu chuẩn và quy phạm Nhà nước còn lỏng lẻo. Ba mặt công tác tiêu chuẩn hoá, quản lý đo lường và kiểm tra chất lượng sản phẩm còn thiếu phối hợp với nhau. Cuối thời kỳ này, Uỷ ban đã đề nghị Hội đồng Chính phủ cho sáp nhập 3 Cục tiêu chuẩn, đo lường, kiểm tra chất lượng thành một Tổng cục để sự chỉ đạo ba mặt công tác đó được thống nhất và chặt chẽ hơn.
Là cơ quan thường trực cho Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản của Nhà nước do Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước làm chủ tịch, Uỷ ban đã bước đầu xây dựng nền nếp kiểm tra, xét duyệt 1 cách khẩn trương, nghiêm túc chất lượng các báo cáo thăm dò, tính toán trữ lượng khoáng sản mà các cơ quan thăm dò, khai thác trình duyệt, có thể coi đây là 1 công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quyết định chủ trương, chính sách khai thác tài nguyên, phát triển công nghiệp của Nhà nước.
5. Thời kỳ này, ngoài tích cực tổ chức xây dựng phương hướng, quy hoạch phát triển công tác khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban còn cố gắng thực hiện tốt hơn chức trách của mình về quản lý thống nhất tiềm lực khoa học và kỹ thuật.
a. Năm 1966 - 1967, Uỷ ban đã tiến hành 1 đợt điều tra thứ hai (đợt đầu vào năm 1959 - 1960) về tình hình lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật ở miền Bắc, kết quả là đã đánh giá được đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật về cơ cấu và chất lượng, đã thu thập được hơn 2 vạn lý lịch khoa học của cán bộ trình độ trên đại học, sau đó tiếp tục duy trì việc đăng ký, thống kê cán bộ trình đệ trên đại học qua lí lịch khoa học. Ngày 27 tháng 3 năm 1967, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/CP về chế độ đào tạo nghiên cứu sinh ở trong nước, trong đó UBKHKTNN và Viện KHXH Việt nam được phân công quản lý về mặt học thuật, phân phối điều hoà các đề tài nghiên cứu. Năm 1969, Uỷ ban đã tham gia điều tra tình hình sử dụng cán bộ khoa học và kỹ thuật ở 1 số ngành và địa phương, góp phần chuẩn bị cho Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 211-TTg năm 1971 về cải tiến công tác bố trí, sử dụng cán bộ khoa học và kỹ thuật nhằm khắc phục dần tình trạng bố trí ở cơ sở rất ít, bố trí trái ngành nghề, bố trí công việc không ổn định thay đổi luôn, sử dụng không đi đôi với bồi dưỡng... Tuy nhiên Uỷ ban còn dè dặt thiếu chủ động đề xuất với Đảng và Chính phủ việc phân công hợp lý trong quản lý cán bộ khoa học và kỹ thuật để vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng vừa phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Theo chỉ thị 190-CT/TW ngày 7 tháng 7 năm 1971 của Ban bí thư, Ban Khoa giáo TW có trách nhiệm cùng Ban tổ chức TW, Ban tuyên huấn TW giúp BCH TW quản lý thống nhất toàn bộ đội ngũ trí thức, và các ngành có trách nhiệm quản lý thống nhất đội ngũ trí thức thuộc ngành mình, như vậy là không có cơ quan Nhà nước nào có trách nhiệm quản lý thống nhất đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật trong phạm vi cả nước. Sau khi có chỉ thị này, Uỷ ban đã giải thể Phòng quản lý cán bộ khoa học và kỹ thuật của Vụ Tổ chức - cán bộ và đặt công tác cán bộ khoa học và kỹ thuật trong khuôn khổ công tác kế hoạch khoa học và kỹ thuật do Vụ Tổng hợp - kế hoạch đảm nhiệm.
b. Uỷ ban đã cố gắng rất nhiều trong việc xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trực thuộc Uỷ ban nhằm chuẩn bị cho việc thành lập Viện khoa học Việt Nam. Các cơ sở này phát triển tổ chức và lực lượng khá nhanh, hoạt động thu được nhiều kết quả có tác dụng phục vụ sản xuất và chiến đấu như đã nêu ở điểm 2 của mục C này. Còn việc cùng với các ngành, các địa phương xây dựng hệ thống cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thì mới đề nghị Chính phủ ban hành một số nguyên tắc cơ bản cho việc thành lập cơ sở nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trong tình hình có chiến tranh, chứ chưa xây dựng thêm được cơ sở mới nào ngoài Viện thực phẩm của Bộ công nghiệp nhẹ được thành lập trên cơ sở nh