, ngày 06 tháng 01 năm 2009

Ứng dụng Khoa học vào Kinh tế (19/11/2008)

Bình Thuận là vùng đất cửa ngõ giao lưu, tiếp giáp với cả 3 vùng kinh tế: Đông Nam Bộ, miền Trung và Tây Nguyên. Với đặc điểm địa hình rất đa dạng, gồm các vùng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng biển, bờ biển dài gần 200km, Bình Thuận có nhiều điều kiện phát triển nhiều ngành kinh tế.  
Mục tiêu đến 2010 của toàn Tỉnh là tập trung vào những lĩnh vực có thể tạo bước chuyển biến rõ rệt cả về tốc độ và chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, phấn đấu đưa tỉnh  thoát khỏi tình trạng kém phát triển; tạo thế phát triển nhanh và vững chắc hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Để thực hiện mục tiêu này, Bình Thuận hướng mạnh vào các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, coi khoa học là cơ sở để phát triển vững chắc.

Hoạt động KH&CN trong thời gian qua đã góp phần thực hiện mục tiêu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đảm bảo luận cứ khoa học cho việc xây dựng các định hướng, chủ trương, chính sách, kế hoạch, quy hoạch phát triển KT - XH của địa phương.

Việc lựa chọn, tiếp thu và làm chủ công nghệ mới, ứng dụng thành tựu KHCN, đặc biệt là những thành tựu của công nghệ sinh học đã tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và khuyến khích người dân phát huy năng lực của chính mình để xoá đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu.

Nhờ các kết quả nghiên cứu khoa học và tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, trong các chương trình giống cây trồng, vật nuôi và cây lâm nghiệp đã góp phần làm tăng năng suất và chất lượng của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong 10 năm qua. Sản lượng lương thực từ 253.238 tấn (năm 1996) lên 385.482 tấn (năm 2001) và 462.365 tấn (năm 2006), hiện nay hơn 539.000 tấn. Tỷ lệ sử dụng giống xác nhận của tỉnh từ 10% (năm 2001) lên 27% (năm 2006) và đến nay hơn 30%. Cơ cấu cây trồng tiếp tục được chuyển đổi theo hướng sử dụng ít nước, rút ngắn thời gian sản xuất, có khả năng kháng sâu bệnh cho năng suất cao. Các giống bắp lai, mì cao sản, cây công nghiệp (cao su, điều), cây ăn quả (đặc biệt là cây thanh long) được ứng dụng góp phần phát triển nhanh diện tích trồng mới, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo kiểu trang trại, đem lại lợi ích kinh tế cho người dân và xã hội.

Cơ giới hoá tăng mạnh ở các khâu làm đất, thu hoạch và bảo quản nông sản. Công nghệ sau thu hoạch đã được áp dụng ngày càng nhiều góp phần làm gia tăng giá trị kinh tế của các mặt hàng nông sản của tỉnh.

Nhiều mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật đã được chuyển giao, nhân rộng trong nhân dân, góp phần đẩy mạnh phong trào sản xuất kinh doanh giỏi, xoá đói giảm nghèo. Một số tiến bộ kỹ thuật đạt hiệu quả cao, phạm vi ảnh hưởng rộng, từng bước góp phần nâng cao trình độ và làm thay đổi tập quán sản xuất của cộng đồng nông - ngư dân trên địa bàn; đặc biệt là một bộ phận đồng bào vùng dân tộc thiểu số của tỉnh.

Nhờ áp dụng có hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trong việc sản xuất và kiểm soát chất lượng tôm giống, sản lượng tôm giống của tỉnh từ 1, 2 tỷ Post (năm 2001) đã tăng lên 5, 2 tỷ Post (năm 2007).

Đầu tư đổi mới thiết bị - công nghệ đã được đẩy mạnh trong các doanh nghiệp sản xuất chế biến các ngành hàng lợi thế của tỉnh như chế biến hải sản, nước khoáng, muối, chế biến nhân điều. Chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh từ 45 triệu USD (năm 2001) lên 127, 9 triệu USD (năm 2007).

Cơ sở vật chất kỹ thuật được đổi mới và tăng cường, các phòng kiểm nghiệm, thử nghiệm với nhiều trang thiết bị hiện đại được đầu tư cho các ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy sản, xây dựng, y tế, KH&CN; năng lực kiểm nghiệm, thử nghiệm, kiểm định đã được cải thiện rõ rệt; đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đo lường, chất lượng.

Có thể nói, việc ứng dụng các thành tựu khoa học vào phát triển kinh tế là hướng đi được Bình Thuận thực hiện có hiệu quả, đem lại những lợi ích thiết thực cho đời sống người dân và cho kinh tế của vùng.

Báo KH&PT


Bản quyền Trung tâm Tin học - Bộ Khoa học và Công nghệ
Tel: 9 438 058 - Email:ttth@most.gov.vn
Giấy phép số: 409/GP-BC do Bộ Văn hoá - Thông tin cấp ngày 22 tháng 9 năm 2004