Để KH&CN thực sự là tảng phát triển kinh tế - xã hội ĐIện Biên (19/06/2006)
Tình hình hoạt động KH&CN của địa phương
Là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, những năm qua Điện Biên đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc phát triển KH-XH: Thu nhập của người dân liên tục gia tăng, sản lượng lương thực bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày một cải thiện. 77% số xã/phường, 55% số hộ đã được sử dụng điện lưới quốc gia, 100% số xã đã có trạm y tế và trường học. Năm 2000, Điện Biên có 21% số hộ đói nghèo nhưng đến năm 2005 đã giảm xuống còn 14%; ngành thương mại tăng từ 13% lên trên 20%, số học sinh đến trường cũng ngày một cao, tỷ lệ người dân không biết chữ giảm đáng kể... Trong những thành tựu đã đạt được, không thể phủ nhận những đóng góp quan trọng của KH&CN, song cũng phải khẳng định rằng, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do đặc thù là một tỉnh miền núi nên hoạt động này ở địa phương cũng còn không ít hạn chế. Theo ông Phạm Hoàng Be - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, tình hình hoạt động KH&CN của Điện Biên giai đoạn 2001-2005 đã thu được nhiều thành quả khả quan. 5 năm qua, tỉnh đã triển khai 73 đề tài/dự án KH&CN cấp tỉnh với tổng số vốn sự nghiệp khoa học gần 15 tỷ đồng. Trong đó, đã triển khai 10 dự án mục tiêu, 29 dự án xây dựng mô hình, 17 đề tài nghiên cứu - triển khai (chiếm 76,71% số đề tài/dự án và 87,05% vốn đầu tư cho nghiên cứu). Nhiều đề tài nghiên cứu, điều tra cơ bản đã được triển khai và đem lại hiệu quả tốt. Cụ thể:

Trong nông nghiệp: Tỉnh đã tuyển chọn và đưa vào sản xuất có hiệu quả các loại giống lúa lai, ngô lai, đậu tương; các giống cây ăn quả (vải thiều, nhãn lồng, cam sành...); các giống vật nuôi (bò lai Sind, lợn hướng nạc...); các giống thuỷ sản (cá chim trắng, tôm càng xanh...). Đặc biệt, Dự án hỗ trợ sản xuất 1.000 ha đậu tương trên đất một vụ lúa và đất mới khai hoang của tỉnh đã được nhân rộng (năm 2004 đạt 6.058 ha, tăng gấp 3 lần so với năm 2000). Năng suất đậu tương đạt 18-20,5 tạ/ha. Năng suất lúa ở các vùng dự án của tỉnh đạt 50-60 tạ/ha (vụ mùa), 55-80 tạ/ha (vụ xuân).
Trong công nghiệp: Nhiều công trình công nghiệp, nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm với dây chuyền công nghệ thiết bị đồng bộ đã được xây dựng và đi vào hoạt động có hiệu quả như: Nhà máy xi măng Điện Biên, Nhà máy in, Nhà máy chiết nạp gas hoá lỏng...

Ngoài ra, trong các lĩnh vực như xây dựng, giao thông vận tải, y tế, an ninh quốc phòng... những thành tựu của KH&CN cũng từng bước được áp dụng một cách có hiệu quả. Các công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng, thông tin KH&CN, củng cố và tăng cường tiềm lực KH&CN cũng được tỉnh quan tâm đầu tư cả về trang thiết bị và nhân lực. Theo đánh giá của ông Phạm Hoàng Be, công tác KH&CN trên địa bàn tỉnh đã có sự chuyển biến tích cực, bước đầu khơi dậy được phong trào ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất, tạo được những tiền đề để thúc đẩy các hoạt động KH&CN. Ngoài ra, hoạt động KH&CN thời gian qua đã góp phần nâng cao hơn trách nhiệm quản lý và điều hành của các cấp, các ngành trong việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN. Nhiều doanh nghiệp, nhà sản xuất đã coi KH&CN là lực lượng sản xuất trực tiếp và chủ yếu trong việc nâng cao chất lượng và giá trị các loại sản phẩm, hàng hoá. Mặc dù vậy, hoạt động KH&CN của tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể như: Công tác quản lý KH&CN còn thiếu tính đồng bộ, việc đánh giá tình hình chưa sát, chưa toàn diện; việc xác định nhiệm vụ hàng năm còn chưa cụ thể, nhân lực và quản lý nhà nước còn bất cập; nguồn lực đầu tư cho KH&CN còn hạn chế, đội ngũ cán bộ KH&CN đầu ngành còn thiếu. Mặt khác, các ứng dụng KH&CN chưa phát triển và có tác động rộng rãi trong sản xuất; thiếu những đề tài nghiên cứu ứng dụng thiết thực, có hiệu quả phục vụ sản xuất hàng hoá; chưa giải quyết đồng bộ các vấn đề có liên quan tới môi trường, sản xuất, dịch vụ, ngành nghề chế biến. Nhận thức về vai trò của KH&CN ở một bộ phận không nhỏ nhân dân và doanh nghiệp chưa đầy đủ. Do đó, các doanh nghiệp vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, tìm kiếm và ứng dụng thành tựu KH&CN vào sản xuất...
Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong toàn tỉnh, Lãnh đạo tỉnh đã đề ra phương hướng phát triển KT-XH nói chung và lĩnh vực KH&CN nói riêng. Theo đó, tỉnh sẽ đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến, nhanh chóng nâng cao trình độ các ngành kinh tế chủ yếu (đặc biệt chú ý sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp chế biến và khai khoáng); lựa chọn, ưu tiên công nghệ phù hợp (chú trọng công nghệ bảo quản, chế biến các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản...) với thực tiễn của tỉnh, có hiệu quả thiết thực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá; quan tâm nghiên cứu nâng cao chất lượng đề tài nghiên cứu (chú ý các đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn); xác lập các căn cứ và luận chứng khoa học để xây dựng chiến lược phát triển KT-XH; giáo dục truyền thống, nâng cao kiến thức KH&CN cho đội ngũ cán bộ và nhân dân... Ba giải pháp chủ yếu để phát triển hoạt động KH&CN đến năm 2010 được Lãnh đạo tỉnh đề ra là: 1)Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền đối với hoạt động KH&CN, đưa hoạt động KH&CN vào kế hoạch và chương trình công tác hàng năm, tăng cường công tác kiểm tra và tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN; 2) Đổi mới tổ chức và quản lý KH&CN (tăng cường bổ sung đội ngũ cán bộ khoa học có năng lực và trình độ quản lý, khuyến khích các doanh nghiệp có nhu cầu và điều kiện thành lập tổ chức KH&CN, tham gia nghiên cứu, tư vấn, chuyển giao công nghệ..., đảm bảo nguồn kinh phí đầu tư cho các đề tài/dự án đã được duyệt, đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật thiết yếu phục vụ quản lý nhà nước về KH&CN); 3) Tạo lập và phát triển thị trường công nghệ (tạo lập môi trường pháp lý, hệ thống chính sách, tăng cường công tác kiểm tra đối với các đề tài/dự án nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm và chất lượng của các đề tài nghiên cứu, thúc đẩy việc ứng dụng các thành tựu của KH&CN và đổi mới công nghệ trong các thành phần kinh tế...).
Để KH&CN thực sự phát huy vai trò trong đời sống và sản xuất, tỉnh đã đưa ra các kiến nghị: Đề nghị Bộ KH&CN tạo điều kiện giúp tỉnh nghiên cứu, điều tra, lập bản đồ nông hoá, thổ nhưỡng trên địa bàn để từ đó có phương án xác định các loại cây trồng và biện pháp chăm sóc phù hợp; đầu tư các đề tài nghiên cứu về kỹ thuật, công nghệ (nhất là công nghệ sinh học trong việc lai tạo, nhân giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ bảo quản và chế biến lương thực, thực phẩm...); đầu tư cho Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phương tiện, thiết bị và đào tạo cán bộ để nâng cao hiệu quả công tác kiểm định chất lượng hàng hoá, sản phẩm; đề nghị Bộ chuyển giao cho tỉnh những kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển sản xuất và đời sống.
Cùng địa phương tháo gỡ khó khăn
Sau khi nghe các ý kiến và đề xuất của địa phương, Đoàn công tác đã ghi nhận và chia sẻ những trăn trở của Lãnh đạo cũng như cán bộ làm khoa học của tỉnh. Thay mặt đoàn, Bộ trưởng Hoàng Văn Phong đã chúc mừng những thành quả kinh tế - văn hoá - xã hội mà tỉnh đã đạt được trong thời gian qua, đánh giá cao những kết quả hoạt động KH&CN của tỉnh. Xuất phát từ những thành tựu và tồn tại cần khắc phục trong hoạt động KH&CN ở địa phương, Bộ trưởng đã gợi mở những định hướng cần thiết cho ngành KH&CN của tỉnh:
Nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò quan trọng của KH&CN trong phát triển KT-XH của tỉnh: Theo Bộ trưởng, KH&CN chỉ có thể phát huy được sức mạnh của mình khi các kết quả của các đề tài/dự án được ứng dụng, chuyển giao tới người sản xuất một cách có hiệu quả. Theo đó, tỉnh cần có chiến lược cụ thể trong việc đưa KH&CN vào khai thác các tiềm năng, thế mạnh vốn có của mình, đồng thời cần có biện pháp tuyên truyền, phổ biến một cách hữu hiệu về tầm quan trọng của việc nghiên cứu, áp dụng những thành quả của KH&CN vào sản xuất và đời sống. Để làm được điều đó, tỉnh cần gắn kết các đề tài/dự án nghiên cứu với tình hình thực tế của địa phương. Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển cho phù hợp. Ví như Mường Thanh là nơi có thể trồng lúa cho năng suất cao và chất lượng gạo tốt thì tỉnh cần tận dụng khai thác triệt để. Không những thế, còn cần phải tìm ra các giải pháp (công nghệ lai tạo giống mới, bảo quản, chế biến) để nâng cao hơn nữa chất lượng cũng như giá trị của mặt hàng lúa gạo ở khu vực này. Hay mô hình nuôi tôm càng xanh của tỉnh cũng cần phát triển mạnh hơn nữa: Tỉnh cần tận dụng những chỗ nào có thể nuôi tôm được thì tiến hành nuôi thử nghiệm, đánh giá rồi nhân rộng... Bộ trưởng khẳng định, KH&CN chỉ trở thành sức mạnh khi nó là phương tiện, là “vũ khí” của nhà quản lý. Nhà quản lý phải làm sao khơi dậy được những thế mạnh đặc biệt của KH&CN đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống. Có như vậy, KH&CN mới trở thành nền tảng, động lực để phát triển KT-XH của tỉnh.
Tăng cường sự phối hợp giữa các sở, ngành trong tỉnh, đa dạng hoá nguồn đầu tư cho KH&CN: Bộ trưởng chỉ rõ, mỗi năm, ngân sách nhà nước dành cho KH&CN khoảng 2% tổng chi ngân sách, trong đó kinh phí dành cho các hoạt động sự nghiệp đã chiếm tới 60%. Vì thế, ngoài những đề tài được hỗ trợ kinh phí từ Bộ, Sở KH&CN cần bám sát các chiến lược phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước; phối, kết hợp chặt chẽ với các sở, ngành để tìm kiếm các nguồn kinh phí đầu tư cho các hoạt động KH&CN. Cụ thể, các sở ban ngành cần có sự bàn bạc với nhau để tìm kiếm, lựa chọn và xây dựng đề tài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực, liên quan tới nhiều bộ, ngành. Có như vậy, các đề tài/dự án vừa có nguồn kinh phí trực tiếp từ cơ quan chủ quản, lại vừa có thêm các nguồn kinh phí khác. Ngoài ra, tỉnh cũng cần linh hoạt hơn trong việc vận động các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia, hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu - phát triển KH&CN, coi đây là yếu tố cần thiết và quan trọng, quyết định chất lượng cũng như giá trị của các loại sản phẩm, hàng hoá mà mình hoặc cơ sở của mình sản xuất ra. Bộ trưởng cũng đề nghị Lãnh đạo tỉnh có sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát hơn nữa đối với các sở, ban, ngành trong việc nghiên cứu và áp dụng KH&CN. Coi đây vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ trong việc phát triển KT-XH của tỉnh.
Lựa chọn và áp dụng công nghệ phù hợp nhằm phát huy các thế mạnh của tỉnh: Về các vấn đề như áp dụng kỹ thuật tiên tiến trong lai tạo giống cây trồng, vật nuôi, bảo quản, chế biến lương thực, thực phẩm, công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng, công tác ứng dụng công nghệ thông tin mà tỉnh đề xuât, Bộ trưởng đã chỉ định cho các đơn vị chức năng của Bộ cung cấp thông tin, chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức quản lý để áp dụng có hiệu quả... Bộ trưởng nhấn mạnh, việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi, mô hình sản xuất, canh tác, công nghệ bảo quản, chế biến là vấn đề quan trọng. Vì thế tỉnh nên giữ vững và phát huy những mặt hàng truyền thống, có thế mạnh của mình (lúa, ngô, đậu tương...), lựa chọn những công nghệ tiên tiến, hiện đại nhưng phù hợp với thực tế địa phương; đồng thời cần có sự chuyển giao và đổi mới cách nghĩ, cách làm để làm sao vừa tận dụng được điều kiện tự nhiên, vừa sử dụng được nguồn lực tại chỗ. Mặt khác, Bộ trưởng cũng đề nghị Lãnh đạo tỉnh cần quan tâm hơn đến việc áp dụng các công nghệ bảo quản và chế biến, vì các mặt hàng lương thực, thực phẩm sau khi thu hoạch, nếu không được bảo quản và chế biến kịp thời thì chất lượng và giá trị sẽ bị giảm đi rất nhiều, gây tổn thất cho người sản xuất.
Khai thác có hiệu quả thành tựu của KH&CN hiện đại: Ngày nay, công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ. Do đó, tỉnh cần tận dụng và có cách thức khai thác triệt để các tiện ích của công cụ này nhằm lựa chọn và vận dụng những thành tựu của KH&CN vào áp dụng tại địa phương sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất. Các nhà khoa học của tỉnh phải tự tìm cho mình “lối thoát” trong việc lựa chọn và phát triển KH&CN; phải biết tận dụng những cơ hội, bắt nhịp được với sự phát triển chung của các ngành, nghề khác. Điều đó có nghĩa là các cán bộ khoa học phải thực sự nhập cuộc, phải “gắn mình” với sự nghiệp phát triển KT-XH chung của tỉnh, để tìm thấy vị trí, vai trò và “bóng dáng KH&CN” trong đó. Cụ thể, thông qua Internet, các cán bộ có thể tìm hiểu, lựa chọn các mô hình hoạt động KH&CN đã được địa phương khác (có điều kiện tự nhiên - xã hội gần giống tỉnh mình, địa phương mình) triển khai thành công để áp dụng vào địa phương mình; hay áp dụng công nghệ thông tin để quảng bá, phổ biến các tiến bộ KH&CN tới đông đảo bà con nông dân; giới thiệu các sản phẩm và thành quả KH&CN của mình để thu hút, tìm kiếm nguồn đầu tư, thị trường tiêu thụ...