1. Những đổi mới bước
đầu
Cùng với quá trình đổi
mới cơ chế kinh tế, trong những năm qua, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
từng bước được đổi mới và đạt được một số kết quả bước đầu.
Việc xây dựng và tổ chức
thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đổi mới theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, bám sát hơn các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các chương trình, đề tài Nhà nước được bố
trí tập trung hơn, khắc phục một bước tình trạng phân tán, dàn trải, cân đối
hơn giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn. Cơ chế
tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo
nguyên tắc cạnh tranh, dân chủ, bình đẳng và công khai bước đầu được áp dụng,
góp phần nâng cao chất lượng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Cơ chế quản lý các tổ
chức khoa học và công nghệ đã từng bước được đổi mới theo hướng xã hội hoá và gắn kết với
sản xuất, kinh doanh. Các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có
quyền thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ. Phạm vi hoạt động của các tổ
chức này được mở rộng từ nghiên cứu, đào tạo, đến sản xuất và dịch vụ khoa học
và công nghệ. Đã xuất hiện nhiều tổ chức khoa học và công nghệ ngoài nhà nước,
nhiều cơ sở sản xuất trong các viện nghiên cứu, trường đại học, góp phần đưa
nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Cơ chế, chính sách tài
chính cho khoa học và công nghệ đã được đổi mới theo hướng tăng dần tỷ lệ chi cho khoa học và
công nghệ trong tổng chi ngân sách nhà nước và đa dạng hoá nguồn đầu tư phát
triển khoa học và công nghệ. Việc cấp kinh phí đến nhà khoa học đã được cải
tiến một bước trên cơ sở tuyển chọn theo nguyên tắc cạnh tranh và giảm bớt các
khâu trung gian không cần thiết. Quyền tự chủ về tài chính bước đầu được triển
khai áp dụng đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
Cơ chế quản lý nhân lực được đổi mới theo hướng
mở rộng hơn quyền chủ động cho cán bộ khoa học và công nghệ trong việc ký kết
hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong hoạt động kiêm
nhiệm và hoạt động hợp tác quốc tế. Chế độ hợp đồng lao động đã được mở rộng
hơn đối với các tổ chức khoa học và công nghệ. Đã áp dụng một số hình thức tôn
vinh, khen thưởng đối với cán bộ khoa học và công nghệ.
Các thể chế hỗ trợ cho
phát triển thị trường công nghệ đã bước đầu được hình thành. Các quy định pháp lý về hợp đồng
khoa học và công nghệ, hoạt động chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ đã được
ban hành tạo điều kiện cho việc thương mại hoá các thành quả khoa học và công
nghệ. Chợ công nghệ - thiết bị đã được tổ chức ở nhiều địa phương và ở phạm vi
quốc gia, hình thành kênh giao dịch thị trường thúc đẩy hoạt động mua bán thiết
bị và các sản phẩm khoa học và công nghệ.
Việc phân công, phân cấp
trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ đã được cải tiến một
bước thông qua việc hoàn thiện tổ chức bộ máy, quy định chức năng, nhiệm vụ và
trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
Những kết quả đổi mới cơ
chế quản lý khoa học và công nghệ vừa qua đã góp phần tạo nên thành tựu chung
của nền khoa học và công nghệ được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đánh giá
“... khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ chuyển biến
tích cực, gắn bó hơn với phát triển kinh tế, xã hội."
2. Những yếu kém và
nguyên nhân
Mặc dù đã có những tiến
bộ nhất định, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay còn chưa
được đổi mới cơ bản, còn chưa phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, với đặc thù của hoạt động khoa học và công nghệ trong xu thế toàn
cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc xác định và tổ chức
thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự xuất phát từ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội. Chưa định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xác
định nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Thiếu cơ chế hữu hiệu khắc phục tình trạng
trùng lặp nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa các ngành, các cấp, các địa
phương. Tiêu chuẩn lựa chọn và việc lựa chọn chuyên gia tham gia các hội đồng
tư vấn để xác định, tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và
công nghệ, đánh giá kết quả nghiên cứu còn bất cập. Công tác đánh giá kết quả
nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế.
Cơ chế quản lý các tổ
chức khoa học và công nghệ chưa phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và cơ chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thiếu quy hoạch các tổ chức khoa học và
công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ
trọng điểm và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Các tổ chức khoa học và công
nghệ của Nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài
chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn
kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất, kinh doanh. Chưa xây dựng được các
tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng và hiệu quả của hoạt động khoa học và công
nghệ nói chung và các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng.
Cơ chế, chính sách tài
chính
chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa
học và công nghệ. Cơ chế tài chính còn chưa tạo ra sự tự chủ cao đối với các tổ
chức khoa học và công nghệ. Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công
nghệ còn dàn trải, thiếu tập trung cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm.
Thiếu biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cho
khoa học và công nghệ. Thiếu các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm để khuyến khích
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, kinh doanh.
Cơ chế quản lý cán bộ
khoa học và công nghệ chưa tạo động lực để phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ khoa
học và công nghệ. Chậm chuyển đổi từ chế độ công chức sang chế độ viên chức và
hợp đồng, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu chuyển và đổi mới cán bộ.
Thiếu cơ chế, biện pháp cụ thể xây dựng và nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ
khoa học và công nghệ đầu ngành và các tập thể khoa học và công nghệ mạnh. Chế
độ tiền lương còn bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ toàn tâm với sự nghiệp
khoa học và công nghệ. Chưa có các chính sách cụ thể khuyến khích mạnh lực
lượng khoa học và công nghệ ngoài nước tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát
triển đất nước.
Thị trường công nghệ còn
nhỏ bé, chậm phát triển. Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông các kết quả nghiên cứu
còn rất hạn chế do thiếu nhiều tác nhân quan trọng, các yếu tố cấu thành thị
trường và các quy định pháp lý cần thiết.
Phần lớn các kết quả
nghiên cứu còn dừng ở phạm vi phòng thí nghiệm, chưa tạo ra được nhiều công
nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hoá. Chưa chú trọng việc mua sáng chế công
nghệ của các nước tiên tiến để đổi mới công nghệ.
Quy định về quyền sở hữu
trí tuệ, chuyển giao công nghệ chưa khuyến khích các tổ chức thực hiện nghiên
cứu quan tâm khai thác, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu được tạo ra bằng
kinh phí từ ngân sách nhà nước. Hiệu lực thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ
thấp. Năng lực của các tổ chức trung gian, môi giới công nghệ còn yếu chưa thật
sự đáp ứng vai trò cầu nối giữa cung và cầu.
Quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ còn chưa đổi mới kịp với yêu cầu chuyển sang kinh tế thị trường.
Thiếu cơ chế cụ thể để điều phối hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công
nghệ. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt
động khoa học và công nghệ còn thiếu, chưa cụ thể, thiếu đồng bộ, lạc hậu so
với thực tiễn, nhiều quy định không khả thi. Thiếu phân công, phân cấp rõ ràng
về quyền hạn và trách nhiệm giữa các Bộ, ngành và giữa trung ương với địa phương.
Những yếu kém nêu trên
là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, quan điểm khoa
học và công nghệ là nền tảng và động lực phát triển đất nước đã được khẳng định
trong các Nghị quyết của Đảng, nhưng chưa được quán triệt đầy đủ để chuyển
thành hành động thực tế của các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, địa phương trong xây dựng
và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều chủ
trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học và công nghệ
chậm được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng nhu cầu đổi
mới trong thực tiễn; lãnh đạo các cấp thiếu kiên trì, kiên quyết trong tổ chức
và chỉ đạo thực hiện đổi mới quản lý khoa học và công nghệ.
Hai là, chậm đổi mới tư
duy, phương pháp quản lý khoa học và công nghệ trong điều kiện chuyển sang kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Chưa làm rõ trách nhiệm
của Nhà nước về đầu tư phát triển đối với một số hoạt động khoa học và công
nghệ như nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu mang tính công ích, nghiên cứu chiến
lược, chính sách phát triển v.v...; chưa có cơ chế, chính sách phù hợp đối với
các hoạt động khoa học và công nghệ cần và có thể vận dụng cơ chế thị trường
như hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và
công nghệ.
Chưa tách biệt quản lý
hành chính nhà nước với hoạt động sự nghiệp dẫn đến tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước
trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Thiếu
cơ chế hữu hiệu về thanh tra, kiểm tra và quy định trách nhiệm rõ ràng trong
hoạt động khoa học và công nghệ.
Ba là, chưa coi trọng
tổng kết thực tiễn các điển hình tiên tiến. Trong những năm gần đây, với sự năng động sáng
tạo của các tổ chức khoa học và công nghệ, đã xuất hiện nhiều điển hình tốt về
gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, nhưng chưa được tổng kết kịp
thời để nhân rộng.
Bốn là, cơ chế quản lý
kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của Nhà nước thông qua các ưu
đãi, độc quyền trong nhiều lĩnh vực, khiến cho các doanh nghiệp nhà nước ít
quan tâm đến nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực
cạnh tranh. Năng lực khoa học và công nghệ của doanh nghiệp còn bất cập, thiếu
đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp làm cầu nối cho ứng
dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Hệ thống tài chính, tiền tệ kém phát
triển cũng không tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động được nguồn vốn để
đầu tư cho khoa học và công nghệ.