3.1. Quan điểm phát triển
khoa học và công nghệ
Quan điểm chủ đạo về
phát triển KH&CN đã được chỉ rõ trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước,
như: Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Luật KH&CN, Văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ IX và Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX mới đây. Những quan
điểm này cần được cụ thể hoá và phát triển phù hợp với bối cảnh mới trong nước
và quốc tế trong giai đoạn từ nay đến năm 2010.
a) Phát triển khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để KH&CN nhanh chóng
phát huy được vai trò là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nhà
nước cần có chính sách quan tâm đặc biệt đến phát triển KH&CN: coi đầu tư
cho KH&CN là đầu tư phát triển; ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, phát triển nguồn nhân lực; tạo động lực vật chất và tinh thần mạnh mẽ
cho cá nhân hoạt động KH&CN, trọng dụng và tôn vinh nhân tài.
b) Phát triển kinh tế -
xã hội dựa vào khoa học và công nghệ, phát triển khoa học và công nghệ định
hướng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh
Các chủ trương, quyết
định, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng phải được luận
cứ về KH&CN; các nhiệm vụ KH&CN phải hướng vào giải quyết có hiệu quả
các mục tiêu kinh tế - xã hội. Mọi ngành, mọi cấp phải đẩy mạnh việc triển khai
nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi thành tựu KH&CN vào hoạt động kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh, từ việc định hướng chiến lược phát triển, hoạch định
chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đến việc tổ chức thực hiện.
c) Bảo đảm gắn kết giữa
khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo; giữa khoa học và công nghệ; giữa
khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học ký thuật.
Sự gắn kết giữa
KH&CN với giáo dục - đào tạo trước hết phải được thực hiện ngay trong các
trường đại học, các tổ chức nghiên cứu và phát triển; đồng thời có cơ chế
khuyến khích kết hợp với biện pháp hành chính để tạo ra sự hợp tác, phối hợp
giữa các tổ chức này. Sự gắn kết giữa các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn,
khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và giữa khoa học với công nghệ được thực
hiện trên cơ sở những nghiên cứu liên ngành nhằm giải quyết những vấn đề kinh
tế - xã hội tổng hợp và phát triển bền vững đất nước.
d) Đẩy mạnh tiếp thu
thành tựu khoa học và công nghệ thế giới, đồng thời phát huy năng lực khoa học
và công nghệ nội sinh, nâng cao hiệu quả sử dụng tiềm lực khoa học và công nghệ
của đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu
hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế về KH&CN phải
được đẩy mạnh nhằm khai thác những cơ hội mà toàn cầu hoá có thể mang lại.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, cần lấy nhập công nghệ từ các nước phát
triển là chủ yếu nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế
- kỹ thuật; đồng thời nâng cao năng lực KH&CN nội sinh để tiếp thu có
hiệu quả thành tựu KH&CN hiện đại của thế giới. Đổi mới cơ chế quản lý nhằm
khai thác tối đa năng lực KH&CN hiện có trong nước, vừa tranh thủ tiếp thu,
ứng dụng nhanh chóng có hiệu quả các thành tựu KH&CN của thế giới.
đ) Tập trung đầu tư của
Nhà nước vào các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá
hoạt động khoa học và công nghệ.
Nhà nước tập trung
đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp đồng bộ giữa đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, trang thiết bị kỹ thuật với đầu tư đào tạo nhân lực KH&CN, thực hiện
dứt điểm các công trình để sớm phát huy hiệu quả đầu tư. Quan điểm này phải
được quán triệt ngay trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển
KH&CN 5 năm và hàng năm trên cơ sở định hướng KH&CN trọng điểm được đề
ra trong Chiến lược phát triển KH&CN. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá
nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tham gia nghiên cứu,
ứng dụng và đầu tư phát triển KH&CN.
3.2. Mục tiêu phát triển
khoa học và công nghệ đến năm 2010
Chiến lược phát triển
KH&CN đến năm 2010 tập trung thực hiện 3 nhóm mục tiêu chủ yếu.
a) Bảo đảm cung cấp luận
cứ khoa học cho quá trình công nghiệp hoá rút ngắn, phát triển bền vững theo
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới
Khoa học và công nghệ,
đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn tập trung nghiên cứu xây dựng cơ sở lý
luận và thực tiễn cho quá trình CNH rút ngắn và xây dựng thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch
định đường lối, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
các giải pháp phát triển bền vững và hội nhập thành công vào nền kinh tế khu
vực và thế giới; giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn khác do
cuộc sống đặt ra.
b) Góp phần quyết định
nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hoá, đảm bảo quốc phòng và an ninh
Đến 2010, KH&CN phải
góp phần quyết định vào việc tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất
lượng và hiệu quả ở một số ngành kinh tế quan trọng
Đẩy mạnh nghiên cứu và
ứng dụng rộng rãi kỹ thuật tiến bộ trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp và công
nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm nhằm phát huy có hiệu quả nguồn tài nguyên
sinh học nhiệt đới, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản
xuất khẩu ngang bằng các nước có nền nông nghiệp phát triển trong khu vực, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện
đáng kể đời sống nhân dân và bộ mặt nông thôn nước ta vào năm 2010.
Hỗ trợ khu vực doanh
nghiệp vừa và nhỏ, khu vực tiểu thủ công nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao
chất lượng, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong nước và mở rộng xuất khẩu.
Nâng cao năng lực tiếp
thu, làm chủ, thích nghi và cải tiến các công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài
trong một số lĩnh vực dịch vụ, kết cấu hạ tầng (tài chính, ngân hàng, bưu
chính, viễn thông, giao thông vận tải, hàng không, v.v...) nhằm đảm bảo sự
tương hợp quốc tế, hội nhập thành công vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Xây dựng và phát triển
có trọng điểm một số ngành công nghiệp công nghệ cao; phát triển công nghiệp
công nghệ thông tin - truyền thông, công nghiệp công nghệ sinh học trở thành
các ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu
trong nước, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.
c) Xây dựng và phát
triển năng lực khoa học và công nghệ đạt trình độ trung bình tiên tiến trong
khu vực
Phát triển tiềm lực khoa
học và công nghệ đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực:
Bảo đảm tốc độ tăng tỷ
lệ đầu tư cho KH&CN từ ngân sách nhà nước phải lớn hơn tốc độ tăng chi ngân
sách nhà nước, đồng thời đẩy mạnh đa dạng hoá các nguồn đầu tư ngoài ngân sách
nhà nước cho KH&CN. Phấn đấu đưa tổng mức đầu tư của toàn xã hội cho
KH&CN đạt 1% GDP vào năm 2005 và 1,5% GDP vào năm 2010.
Phát triển nguồn nhân
lực KH&CN có chất lượng cao, có cơ cấu trình độ, chuyên môn phù hợp với các
hướng KH&CN ưu tiên, với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và được phân
bố hợp lý theo vùng lãnh thổ. Phấn đấu đến năm 2010, nâng cao chất lượng và
phát triển đội ngũ cán bộ KH&CN ngang mức trung bình tiên tiến của các nước
trong khu vực.
Hình thành một số tổ
chức nghiên cứu - phát triển và một số trường đại học đạt trình độ trung bình
tiên tiến trong khu vực ở một số lĩnh vực công nghệ trọng điểm, một số ngành
khoa học có thế mạnh của Việt Nam.
Hoàn thành xây dựng giai
đoạn I hai khu công nghệ cao tại Hoà Lạc và thành phố Hồ Chí Minh; đưa vào sử
dụng và khai thác có hiệu quả các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đã được
phê duyệt; nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật một số tổ chức dịch vụ KH&CN
quan trọng về thông tin KH&CN, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng.
Hình thành mạng lưới các
tổ chức KH&CN đủ năng lực hội nhập quốc tế, gắn kết chặt chẽ với giáo dục -
đào tạo, sản xuất - kinh doanh.
Hình thành cơ chế quản
lý quản lý khoa học và công nghệ tiến bộ, tương hợp quốc tế:
Đổi mới căn bản cơ chế
quản lý KH&CN theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường, đặc thù của hoạt
động KH&CN và hội nhập quốc tế; tạo động lực phát huy sáng tạo của đội ngũ
cán bộ KH&CN; nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN.
Nâng cao năng lực khoa
học và công nghệ:
Đến năm 2010, KH&CN
nước ta đủ năng lực tiếp thu, làm chủ và sử dụng có hiệu quả công nghệ hiện đại
nhập từ nước ngoài; có khả năng nghiên cứu và ứng dụng một số công nghệ hiện
đại, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên
tiến, công nghệ tự động hoá, cơ - điện tử; tiếp cận trình độ thế giới trong một
số lĩnh vực khoa học Việt Nam có thế mạnh.