1. Hoàn thiện cơ chế xây
dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Cơ chế xây dựng và tổ
chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải xuất phát từ nhiệm vụ phát
triển kinh tế, xã hội của quốc gia, của các ngành, địa phương ở mỗi thời kỳ.
a) Phân công, phân cấp
rõ ràng trong xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Chính phủ quyết định các
định hướng phát triển khoa học và công nghệ trọng điểm làm cơ sở xác định nhiệm
vụ khoa học và công nghệ cấp nhà nước, có tầm quan trọng quốc gia, mang tính
liên ngành và dài hạn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
và nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia. Thủ tướng Chính phủ quyết
định các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước, các nhiệm vụ
khoa học - công nghệ phục vụ trực tiếp cho sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan liên quan xây dựng và tổ chức
thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ này, lồng ghép với các chương
trình kinh tế - xã hội.
Các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ
trực tiếp mục tiêu phát triển của mình, không trùng lặp với nhiệm vụ khoa học
và công nghệ cấp nhà nước. Cơ quan quản lý khoa học và công nghệ thuộc Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan xây
dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc phạm vi quản
lý.
Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định nhiệm vụ khoa học và công nghệ
chủ yếu mang tính ứng dụng, phục vụ trực tiếp mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương. Cơ quan quản lý khoa học và công nghệ của tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương giúp Chủ tịch ủy ban nhân dân xây dựng và tổ chức thực
hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của địa phương.
Các tổ chức khoa học và
công nghệ, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội thuộc mọi thành phần kinh tế tham
gia xây dựng và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước, tự chủ trong
việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tổ chức mình.
Tăng cường sự điều phối
của Chính phủ trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ để tránh sự chồng chéo và trùng lặp. Bộ Khoa học và Công nghệ giúp
Chính phủ tổ chức thực hiện việc điều phối này.
b) Hoàn thiện cơ chế xây
dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước
Xác định rõ các nhiệm vụ
khoa học và công nghệ ưu tiên ở các cấp. Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học
và công nghệ các cấp tổ chức việc trao đổi giữa các viện, trường, doanh nghiệp
và cơ quan hoạch định chính sách để xác định các nhiệm vụ ưu tiên.
Đối với các nhiệm vụ
khoa học và công nghệ mang tính ứng dụng, xuất phát từ nhu cầu nâng cao chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các sản phẩm, thực hiện cơ chế liên kết
giữa tổ chức khoa học và công nghệ với cơ sở áp dụng kết quả nghiên cứu trong
toàn bộ quá trình từ xác định nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, đánh giá và đưa kết
quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Áp dụng rộng rãi phương
thức tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo
cơ chế cạnh tranh, công khai, dân chủ. Việc giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa
học và công nghệ phải được thực hiện công khai dựa trên các tiêu chí lựa chọn
rõ ràng. Hoàn thiện quy chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa
học và công nghệ.
Đổi mới căn bản công tác
đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ dựa trên những tiêu chuẩn rõ ràng, cụ thể, phù hợp với từng loại
hình nghiên cứu: đối với nghiên cứu cơ bản phải đánh giá bằng chất lượng khoa
học phù hợp với chuẩn mực quốc tế; đối với nghiên cứu ứng dụng và phát triển
công nghệ phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội của việc ứng dụng trong thực tiễn
làm tiêu chuẩn chủ yếu.
Hoàn thiện các quy định
về thành lập và hoạt động của các hội đồng tư vấn xác định, tuyển chọn và
đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bảo đảm tính độc lập
và khách quan của hội đồng. Xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên gia đánh giá, tiêu
chuẩn thành viên và cơ cấu hội đồng phù hợp với từng loại hình nghiên cứu.
c) Đưa nhanh các kết quả
nghiên cứu khoa học và công nghệ áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống
Cơ quan quản lý khoa học
và công nghệ các cấp có trách nhiệm xây dựng và bảo đảm thực hiện cơ chế đưa
nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ áp dụng vào thực tiễn. Tổ
chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ có trách nhiệm thực
hiện các quy định về lưu giữ, bảo mật, phổ biến và sử dụng và chuyển giao kết
quả nghiên cứu khoa học và công nghệ. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế có trách nhiệm đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Nhà nước ban hành các chính sách khuyến khích và thúc đẩy các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công nghệ.
2. Đổi mới cơ chế quản
lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ
Đổi mới cơ chế quản lý
và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ nhằm tạo điều kiện thuận lợi
phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ
chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ; xây dựng một số tổ chức khoa học
và công nghệ của Nhà nước đạt trình độ tiên tiến trong khu vực thuộc các lĩnh vực
trọng điểm được xác định trong Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến
năm 2010; tăng cường mối liên kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất.
a) Thực hiện cơ chế tự
chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước
hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và chính sách, nghiên cứu
các lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm và một số lĩnh vực khác do Nhà
nước quy định
Tự chủ về hoạt động khoa
học và công nghệ: các tổ chức khoa học và công nghệ phải có trách nhiệm thực hiện
tốt các nhiệm vụ Nhà nước giao; đồng thời tự chủ tiến hành các hoạt động khoa
học và công nghệ khác theo quy định của pháp luật (liên kết, hợp tác, ký hợp
đồng nghiên cứu và dịch vụ khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ v.v...).
Tự chủ về tài chính: Nhà nước đảm bảo kinh
phí hoạt động để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo phương thức khoán chi
quỹ lương, hoạt động bộ máy và kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công
nghệ. Các tổ chức này được tự chủ trong việc sử dụng các nguồn thu khác từ hợp
đồng khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh
tế trong nước và nước ngoài.
Tự chủ về quản lý nhân
sự: thực hiện phân cấp và
trao quyền tự chủ nhân sự cho tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước trên cơ
sở thực hiện chế độ viên chức và hợp đồng lao động đối với cán bộ khoa học và
công nghệ. Cơ chế tự chủ về quản lý nhân sự được quy định cụ thể trong mục 4
"Đổi mới quản lý nhân lực khoa học và công nghệ" dưới đây.
Tự chủ về quan hệ hợp
tác quốc tế: phân cấp mạnh hơn nữa cho các tổ chức khoa học và công nghệ
trong việc cử cán bộ khoa học và công nghệ ra nước ngoài, thuê chuyên gia nước
ngoài thực hiện nghiên cứu, đào tạo, tư vấn khoa học và công nghệ và đảm nhiệm
chức vụ quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc các lĩnh vực do
Nhà nước quy định.
Nhà nước giao cho người
đứng đầu các tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện quyền tự chủ và chịu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động của tổ chức.
b) Chuyển các tổ chức
nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh
nghiệp
Chuyển các tổ chức
nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ có sản phẩm gắn với thị trường sang
hoạt động theo một trong các hình thức sau: doanh nghiệp khoa học và công nghệ;
doanh nghiệp; tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí.
Doanh nghiệp khoa học và
công nghệ có quyền và nghĩa vụ sau đây:
Về chức năng nhiệm vụ:
Thực hiện các hoạt động
khoa học và công nghệ, đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ theo quy định của
Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy định pháp luật khác có
liên quan.
Tổ chức sản xuất và kinh
doanh sản phẩm mới, dịch vụ khoa học công nghệ dựa trên kết quả nghiên
cứu và phát triển theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước.
Về tổ chức:
Các doanh nghiệp khoa
học và công nghệ được tổ chức theo loại hình Công ty có nhiều hình thức sở hữu
(nhà nước, tập thể, tư nhân) hoặc theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con,
với cơ cấu gồm:
Các đơn vị nghiên cứu và
phát triển có chức năng nghiên cứu phát triển công nghệ; tiếp nhận, thích nghi
công nghệ mới và tổ chức chuyển giao công nghệ này vào các đơn vị sản xuất -
kinh doanh bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Giá trị
sáng chế và giá trị công nghệ chuyển giao của các đơn vị nghiên cứu và phát
triển được tính vào vốn điều lệ khi thành lập các đơn vị sản xuất - kinh doanh
hoặc liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
Các đơn vị sản xuất -
kinh doanh được tổ chức dưới dạng các loại doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế, hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành.
Bộ máy tổ chức và cơ chế
quản lý của doanh nghiệp khoa học và công nghệ được xác định phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của loại hình doanh nghiệp này.
Về quản lý tài sản và
tài chính:
Nhà nước giao quyền sử
dụng và quản lý toàn bộ tài sản cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ
chuyển đổi từ các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ theo quy
định hiện hành của pháp luật về giao tài sản cho doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp khoa học và
công nghệ phải trích ít nhất 2% doanh thu để đầu tư cho hoạt động khoa học và
công nghệ, kể từ khi có thu nhập và được hưởng các ưu đãi theo quy định của
pháp luật. Nhà nước hỗ trợ một phần quỹ lương và hoạt động bộ máy trong 3 năm
kể từ khi có quyết định chuyển đổi; hỗ trợ một phần vốn cố định và lưu động khi
thành lập các công ty sản xuất - kinh doanh trực thuộc; có chính sách hỗ trợ
cán bộ khoa học và công nghệ, viên chức trong khi chờ việc, thuyên chuyển, đào
tạo lại, thôi việc v.v...
Về quản lý nhân lực và
quan hệ hợp tác, liên kết:
Tự chủ trong việc ký kết
hợp đồng lao động đối với cán bộ, viên chức theo Luật Lao động, Luật Khoa học
và Công nghệ, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp và các quy định
pháp luật có liên quan.
Chủ động thực hiện các
quan hệ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, kinh tế, thương mại theo quy
định của pháp luật.
Tổ chức nghiên cứu ứng
dụng và phát triển công nghệ chuyển sang hình thức doanh nghiệp, tổ chức khoa
học và công nghệ tự trang trải kinh phí:
Tổ chức nghiên cứu ứng
dụng và phát triển công nghệ chuyển sang hình thức doanh nghiệp, hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp. Các tổ chức chuyển đổi sang hình
thức doanh nghiệp được giao tài sản như đối với doanh nghiệp khoa học và công
nghệ và hưởng các ưu đãi về thuế, phí, lệ phí và các ưu đãi khác như đối với
doanh nghiệp mới thành lập.
Tổ chức khoa học và công
nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động theo Luật Khoa học và Công nghệ. Các tổ
chức chuyển đổi này được Nhà nước giao toàn bộ tài sản, được hỗ trợ quỹ lương
và hoạt động bộ máy kể từ khi có quyết định chuyển đổi. Mức và thời gian hỗ trợ
quỹ lương và hoạt động bộ máy được căn cứ vào kết quả đánh giá của cơ quan quản
lý khoa học và công nghệ có thẩm quyền về chất lượng và hiệu quả hoạt động của
các tổ chức chuyển đổi này.
Việc chuyển đổi các tổ
nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hình thức doanh nghiệp khoa
học và công nghệ, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải
kinh phí phải được tiến hành từng bước, có thí điểm, tổng kết, rút kinh nghiệm
để nhân rộng.
c) Đẩy mạnh việc hình
thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ cao
Doanh nghiệp khoa học và
công nghệ cao là doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoạt động trong các lĩnh
vực công nghệ cao, đáp ứng các điều kiện do Nhà nước định kỳ công bố.
Nhà nước khuyến khích
các tổ chức khoa học và công nghệ, tập thể và cá nhân nhà khoa học thành lập,
liên doanh với doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ cao
thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, thành lập quỹ đầu tư mạo
hiểm, đầu tư hạ tầng cơ sở.
Doanh nghiệp khoa học và
công nghệ cao được áp dụng các ưu đãi như đối với các doanh nghiệp công nghệ
cao tại khu công nghệ cao theo quy định của pháp luật.
d) Thực hiện đánh giá
định kỳ đối với các tổ chức khoa học và công nghệ sử dụng kinh phí từ ngân sách
nhà nước
Nhà nước quy định chế độ
tự đánh giá và bên ngoài đánh giá định kỳ đối với các tổ chức khoa học và công
nghệ sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước theo các tiêu chuẩn phù hợp với
chuẩn mực quốc tế để nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí đầu tư.
Nghiên cứu hình thành
loại hình tổ chức đánh giá khoa học và công nghệ độc lập
có chức năng nghiên cứu phương pháp và tổ chức thực hiện việc đánh giá hoạt
động khoa học và công nghệ, đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ, phục vụ
yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và quản lý khoa học và công
nghệ và bảo đảm tính khách quan trong việc đánh giá.
đ) Phát huy chức năng và
nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của các trường đại học
Nhà nước tăng đầu tư
nghiên cứu khoa học và công nghệ cho các trường đại học: đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng khoa học và công nghệ, tăng kinh phí nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là
nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng.
Quy định định mức nghiên
cứu khoa học, kết quả nghiên cứu được công bố đối với cán bộ giảng dạy của các
trường đại học phù hợp với chức danh.
Xây dựng cơ chế liên kết
giữa trường đại học và tổ chức nghiên cứu và phát triển: xây dựng và thực hiện
các quy chế về kiêm nhiệm chức vụ lãnh đạo và chuyên môn đối với các tổ chức
nghiên cứu và phát triển và các trường đại học, về khuyến khích cán bộ nghiên
cứu thuộc các tổ chức nghiên cứu và phát triển tham gia giảng dạy, về dùng
chung phòng thí nghiệm và thiết bị phục vụ nghiên cứu và giảng dạy.
Đẩy mạnh liên kết giữa
trường đại học đối với cơ sở sản xuất, doanh nghiệp : các trường đại học
thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước và ký kết hợp đồng
khoa học và công nghệ, chuyển giao kết quả nghiên cứu với các tổ chức thuộc mọi
thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Xây dựng cơ chế, chính
sách hỗ trợ các trường đại học công nghệ thực hiện nhiệm vụ ươm tạo công nghệ
và ươm tạo doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khoa học và công nghệ để sớm
hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và
công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.
3. Đổi mới cơ chế, chính
sách đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ
Đổi mới cơ chế, chính
sách tài chính nhằm: tăng nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước cho phát
triển khoa học và công nghệ; nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước cho khoa học
và công nghệ; tạo động lực cho tổ chức và cá nhân hoạt động khoa học và công
nghệ.
a) Đa dạng hoá nguồn vốn
đầu tư cho khoa học và công nghệ
Khuyến khích doanh
nghiệp đầu tư cho đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm nâng cao năng lực cạnh
tranh:
Tiếp tục hoàn thiện các
cơ chế và chính sách tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động
khoa học và công nghệ quy định trong Nghị định số 119/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
Khuyến khích doanh
nghiệp thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để thực hiện nghiên cứu,
ứng dụng kết quả nghiên cứu phục vụ đổi mới công nghệ và sản phẩm; doanh nghiệp
được khấu hao nhanh đối với tài sản, thiết bị, máy móc; được vay vốn với lãi
xuất ưu đãi tại Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, các Quỹ phát
triển khoa học và công nghệ của Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để
tiến hành hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ.
Khuyến khích thành lập
các loại quỹ phát triển khoa học và công nghệ:
Nhanh chóng đưa Quỹ phát
triển khoa học và công nghệ quốc gia vào hoạt động; triển khai thành lập các
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài thành lập
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực khoa
học và công nghệ.
Tăng cường khai thác các
nguồn vốn từ hợp tác quốc tế cho phát triển khoa học và công nghệ:
Nhà nước tạo cơ sở pháp
lý cho các tổ chức khoa học và công nghệ khai thác nguồn vốn ngoài nước từ hoạt
động hợp tác quốc tế bằng nhiều hình thức khác nhau: hợp tác nghiên cứu, đào
tạo song phương, đa phương; khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư,
thành lập tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam dưới nhiều hình thức (hợp
tác, liên kết giữa bên Việt Nam và các bên nước ngoài; các tổ chức khoa học và
công nghệ 100% vốn nước ngoài…).
Ưu tiên nguồn vốn ODA
đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực
khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia, như: các tổ chức nghiên cứu và phát
triển trọng điểm, các phòng thí nghiệm trọng điểm, các khu công nghệ cao.
b) Đổi mới chính sách
đầu tư và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ
Ngân sách nhà nước tập
trung đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm được xác định trong Chiến lược phát
triển khoa học và công nghệ, các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến
lược, chính sách và những lĩnh vực công ích do Nhà nước quy định. Khuyến khích
mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tăng đầu tư vào các
lĩnh vực nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ.
Nhà nước tập trung đầu
tư đồng bộ giữa hạ tầng cơ sở, trang thiết bị với đào tạo cán bộ khoa học và
công nghệ, đối với việc xây dựng một số tổ chức nghiên cứu và phát triển đạt
trình độ hiện đại, tiên tiến; đồng thời áp dụng chế độ ưu đãi đặc biệt (về nhà
ở, điều kiện làm việc, chế độ thu nhập, xuất nhập cảnh thuận lợi…) để thu hút
chuyên gia giỏi trong nước và nước ngoài tới làm việc tại các tổ chức này.
Dành kinh phí cần thiết
cho các khâu hình thành, xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tuyển chọn tổ
chức và cá nhân thực hiện đề tài, dự án; kiểm tra và đánh giá định kỳ kết quả
hoạt động khoa học và công nghệ; đánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu và hỗ
trợ ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để đảm bảo chất lượng và hiệu quả
hoạt động khoa học và công nghệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ
chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan có
liên quan thống nhất việc xây dựng cơ cấu phân bổ ngân sách nhà nước dành cho
khoa học và công nghệ, trình Chính phủ phê duyệt.
c) Hoàn thiện cơ chế sử
dụng nguồn tài chính tạo động lực cho hoạt động khoa học và công nghệ
Điều chỉnh những điểm
bất hợp lý về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh
vực khoa học và công nghệ trong quá trình thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP
của Chính phủ. Không giới hạn mức thu nhập của cán bộ, viên chức trong các tổ
chức khoa học và công nghệ. Ban hành cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với
các tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước có mức thu thấp hoặc không có
thu.
Áp dụng cơ chế khoán đối
với đề tài, dự án khoa học và công nghệ trong một số lĩnh vực khoa học và công
nghệ trên cơ sở thẩm định kỹ về nội dung, sản phẩm nghiên cứu và dự toán kinh
phí thực hiện. Việc thanh, quyết toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án khoa học
và công nghệ phải căn cứ vào kết quả đánh giá chất lượng sản phẩm nghiên cứu là
chủ yếu; bãi bỏ các thủ tục thanh, quyết toán không còn phù hợp trong thực hiện
nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Quy định về việc trích
lập Quỹ khen thưởng từ kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ để khen thưởng
thỏa đáng đối với tổ chức, cá nhân có kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi
và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Nhà nước dành một khoản
kinh phí hỗ trợ đăng ký bằng sáng chế, giải pháp hữu ích của người Việt Nam;
kinh phí để mua sáng chế công nghệ từ các nước phát triển.
Tăng đầu tư cho hoạt
động khoa học và công nghệ để phát triển kinh tế -xã hội ở miền núi, vùng sâu,
vùng xa và các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn.
4. Đổi mới cơ chế quản
lý nhân lực khoa học và công nghệ
Đổi mới cơ chế quản lý
nhân lực khoa học và công nghệ nhằm phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của đội
ngũ cán bộ khoa học và công nghệ; tạo động lực vật chất và tinh thần, thực hiện
chế độ thù lao, đãi ngộ theo mức độ cống hiến và các chính sách khuyến khích
khác đối với cán bộ khoa học và công nghệ.
a) Tăng quyền tự chủ về
quản lý nhân lực của các tổ chức khoa học và công nghệ
Triển khai thực hiện chế
độ viên chức, chế độ hợp đồng theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của
Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 và Nghị định số 116/2003/NĐ-CP. Kịp thời
điều chỉnh những điểm bất hợp lý trong quá trình thực hiện nghị định này.
Tăng cường quyền hạn và
trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức khoa học và công nghệ trong quản lý
nhân lực khoa học và công nghệ: quyền tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, thôi việc, xếp lương, đãi ngộ đối với cán bộ, viên chức.
Thực hiện cơ chế giám sát việc thực thi quyền và trách nhiệm của người đứng đầu
tổ chức khoa học và công nghệ.
Ban hành chế độ quản lý
nhân lực đối với các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ chuyển
sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học
và công nghệ tự trang trải kinh phí; chế độ bảo hiểm thôi việc đối với cán bộ
khoa học và công nghệ.
b) Xây dựng cơ chế,
chính sách tạo động lực cho cán bộ khoa học và công nghệ
Ban hành chính sách
trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ tài năng; sử dụng cán bộ khoa học và
công nghệ giỏi; khuyến khích và thu hút người Việt Nam định cư ở nước ngoài
tham gia phát triển khoa học và công nghệ của đất nước. áp dụng mức thu nhập
đặc biệt đối với cán bộ chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ có tầm
quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế
- xã hội. Cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ, năng lực chuyên môn ngang
bằng chuyên gia nước ngoài, cùng vị trí công tác trong các dự án hợp tác, được
hưởng mức thu nhập tương đương với mức thu nhập bình quân do các tổ chức quốc
tế, nước ngoài trả cho người Việt Nam.
Ban hành tiêu chuẩn và
quy chế bổ nhiệm chức vụ khoa học và công nghệ đối với cán bộ khoa học và công
nghệ và điều chỉnh chế độ lương phù hợp với chức vụ khoa học và công nghệ.
Ban hành tiêu chuẩn và
chế độ đánh giá định kỳ đối với cán bộ khoa học và công nghệ. Thực hiện nâng
lương trước thời hạn đối với cán bộ khoa học hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có
thành tích trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ.
c) Tăng cường đào tạo và
đào tạo lại nhân lực khoa học và công nghệ
Dành một khoản kinh phí
thích đáng để đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, cán bộ khoa học và công nghệ trình
độ cao, kỹ thuật viên lành nghề phục vụ cho các ngành kinh tế trọng điểm và các
lĩnh vực công nghệ cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và thu hút đầu tư nước ngoài; định kỳ đào tạo lại cho cán bộ khoa học và công
nghệ để cập nhật kiến thức và kỹ năng mới. Đẩy mạnh đào tạo cán bộ khoa học và
công nghệ tại các cơ sở đào tạo nước ngoài có trình độ khoa học và công nghệ
tiên tiến; có cơ chế, chính sách sử dụng có hiệu quả cán bộ khoa học và công
nghệ sau khi đào tạo.
Tạo điều kiện thuận lợi
khuyến khích mở các trường đại học, viện nghiên cứu quốc tế hoặc khu vực tại
Việt Nam. Thu hút các viện nghiên cứu, trường đại học có uy tín của nước ngoài
liên kết hoặc mở phân viện, phân hiệu hoặc tổ chức các chương trình đào tạo
nhân lực khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ,
nhất là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
d) Thu hút chuyên gia
nước ngoài phục vụ phát triển khoa học và công nghệ
Ban hành chính sách thu
hút chuyên gia giỏi là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tới
Việt Nam tham gia công tác đào tạo cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn, giữ
các chức vụ quản lý nghiên cứu khoa học và công nghệ.
5. Phát triển thị trường
công nghệ
a) Gắn kết đổi mới cơ
chế, chính sách kinh tế, xã hội với thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ và
ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống
Xây dựng chương trình
liên kết giữa khoa học và công nghệ với đào tạo và sản xuất, kinh doanh để hỗ
trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản lý, hiện đại hoá, đổi mới công nghệ,
nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực hiện việc lấy ý
kiến phản biện của các nhà khoa học đối với chủ trương, chính sách, các dự án
đầu tư, chương trình phát triển kinh tế, xã hội. Xây dựng cơ chế lồng ghép các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ với các dự án đầu tư, chương trình phát triển
kinh tế - xã hội.
Cải cách mạnh mẽ doanh
nghiệp nhà nước theo hướng đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá, không áp dụng các
biện pháp khoanh nợ, dãn nợ đối với doanh nghiệp. Tạo môi trường cạnh tranh
bình đẳng nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm thực sự đến hiệu quả sản
xuất, kinh doanh và xem xét hiệu quả khi lựa chọn công nghệ. Ban hành các chính
sách về kiểm soát độc quyền, giải thể, phá sản doanh nghiệp đồng thời đẩy nhanh
quá trình chủ động hội nhập quốc tế tạo sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp áp
dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, đổi mới sản phẩm.
b) Nâng cao chất lượng
và khả năng thương mại hoá của các sản phẩm khoa học và công nghệ
Dành tỷ lệ thích đáng
kinh phí từ ngân sách nhà nước cho việc hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu
có khả năng thương mại hoá. Xây dựng cơ chế đánh giá sau nghiệm thu và cơ chế
hỗ trợ kinh phí để hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu.
Hình thành các tổ chức
tư vấn, giám định về chất lượng và giá cả của công nghệ trước khi chuyển giao
hoặc bán cho sản xuất công nghiệp.
c) Phát triển các tổ
chức trung gian, môi giới công nghệ
Phát triển các tổ chức
môi giới công nghệ, tư vấn chuyển giao công nghệ, các tổ chức cung cấp thông
tin thị trường công nghệ; hình thành các tổ chức xúc tiến thị trường công nghệ;
tổ chức các chợ công nghệ - thiết bị.
Khuyến khích mọi thành
phần kinh tế tham gia kinh doanh các dịch vụ môi giới về thị trường công nghệ.
d) Hoàn thiện và nâng
cao hiệu lực của pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ
Hoàn thiện hệ thống pháp
luật cho thị trường công nghệ. Rà soát, bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các văn
bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan tới sở hữu trí tuệ và chuyển giao
công nghệ. Sớm ban hành hai luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ và về chuyển giao
công nghệ.
Quy định rõ cơ chế
khuyến khích chuyển giao kết quả nghiên cứu có sử dụng kinh phí từ ngân sách
nhà nước theo hướng trao quyền sử dụng cho tổ chức thực hiện nghiên cứu trong
một thời gian hợp lý để khai thác, thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Quy định
rõ về thời hạn sử dụng, nghĩa vụ và lợi ích của tổ chức, cá nhân được trao
quyền sử dụng, đặc biệt khi kết quả nghiên cứu có giá trị kinh tế, xã hội lớn.
Sau thời hạn quy định, nếu kết quả nghiên cứu không được áp dụng thực tiễn hoặc
thương mại hoá, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền
sử dụng dưới dạng hàng hoá, dịch vụ công.
Thể chế hoá việc các tổ
chức và cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ góp vốn cho doanh nghiệp bằng
bản quyền đối với kết quả nghiên cứu hoặc các hình thức sở hữu trí tuệ khác.
Các cơ quan quản lý khoa
học và công nghệ hỗ trợ tổ chức, cá nhân người Việt Nam về thủ tục, lệ phí đăng
ký bằng phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích đối với các kết quả nghiên cứu
khoa học và công nghệ ở trong nước và bảo hộ ở nước ngoài; thành lập các văn
phòng tư vấn hỗ trợ về đăng ký và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại các tổ chức
khoa học và công nghệ có năng lực về nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ.
Tuyên truyền, phổ biến
rộng rãi pháp luật về sở hữu trí tuệ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động khoa
học và công nghệ và trong nhân dân. Quy định khung hình phạt có hiệu lực để
ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
6. Hoàn thiện cơ chế
hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
Thực hiện cải cách hành
chính trong cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo hướng tập
trung vào nhiệm vụ quản lý nhà nước, tách nhiệm vụ sự nghiệp ra khỏi cơ quan
hành chính, tăng cường chức năng giám sát, kiểm tra. Đẩy mạnh đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ.
Tăng cường sự điều phối
của Chính phủ để tạo sự gắn kết các hoạt động khoa học và công nghệ với các
hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Thực hiện sự phân công, phân
cấp rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm về quản lý khoa học và công nghệ
giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
Phân định rõ chức năng,
nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ:
a) Chính phủ: thông qua
chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, các định hướng ưu tiên phát triển
khoa học và công nghệ từng thời kỳ, xác định những nhiệm vụ khoa học và công
nghệ trọng điểm của Nhà nước; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc
phạm vi thẩm quyền của Chính phủ về khoa học và công nghệ; trình Quốc hội thông
qua ngân sách dành cho khoa học và công nghệ hàng năm.
b) Bộ Khoa học và Công
nghệ: chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng chiến lược, cơ
chế, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ để trình Chính phủ;
tổng hợp và cung cấp thông tin về các định hướng, xu thế phát triển khoa học và
công nghệ trên thế giới và của Việt Nam cho các Bộ, ngành và địa phương; cân
đối và phân bổ phần ngân sách nhà nước dành cho hoạt động khoa học và công
nghệ; quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia và áp dụng
các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn; tổ chức đánh giá tiềm lực, trình độ khoa
học và công nghệ của đất nước; thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động khoa
học và công nghệ.
c) Bộ Kế hoạch và Đầu
tư: hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đưa kế hoạch phát triển khoa học và
công nghệ thành một nội dung của kế hoạch định kỳ phát triển kinh tế - xã hội
của các Bộ, cơ quan và địa phương; dự báo, cân đối các nguồn lực đầu tư phát
triển khoa học và công nghệ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kể cả
nguồn vốn ODA và nguồn vốn huy động khác ngoài nhà nước; cân đối tổng mức đầu
tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ;
phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ phân bổ vốn cho các công trình xây dựng
cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ.
d) Bộ Tài chính: chịu
trách nhiệm cân đối ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ trong tổng dự
toán ngân sách nhà nước; đảm bảo cấp phát đủ, đúng tiến độ ngân sách nhà nước
đầu tư cho khoa học và công nghệ đã được phê duyệt; chủ trì hoặc tham gia xây
dựng các cơ chế, chính sách cụ thể về tài chính cho hoạt động khoa học và công
nghệ.
đ) Bộ Giáo dục và Đào
tạo: chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và trình Chính phủ
quyết định kế hoạch và các cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
cho khoa học và công nghệ và tăng cường công tác nghiên cứu trong các trường
đại học.
e) Bộ Nội vụ chủ trì,
phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ xây
dựng và trình Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách liên quan tới nhân lực khoa
học và công nghệ và hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ.
g) Các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ : chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về khoa học và
công nghệ đối với ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách; xây dựng và tổ chức
thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển ngành, lĩnh vực
mình.
h) ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương: chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về
khoa học và công nghệ tại địa phương; cụ thể hoá và vận dụng cơ chế, chính
sách, định hướng phát triển khoa học và công nghệ chung của đất nước phù hợp
với tình hình cụ thể của địa phương nhằm đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa
học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
i) Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu
tư và hoạt động khoa học và công nghệ thuộc phạm vi được phân công, phân cấp.