2.1. Bối cảnh quốc tế
a) Xu hướng phát triển
khoa học và công nghệ
Cuộc cách mạng KH&CN
trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo
ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn
tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người.
Nhờ những thành tựu to
lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin - truyền thông, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu, v.v..., xã hội loài người đang trong quá trình
chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa
vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ hội mới
cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
Khoa học và công nghệ
đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu. Sức mạnh của mỗi quốc
gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN. Lợi thế về nguồn tài nguyên
thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn. Vai trò của
nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo, ngày càng có ý
nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.
Thời gian đưa kết quả
nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn. Lợi thế cạnh
tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết lợi dụng các công nghệ mới để tạo ra
các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách
hàng. Với tiềm lực hùng mạnh về tài chính và KH&CN, các công ty xuyên quốc
gia, đa quốc gia đang nắm giữ và chi phối thị trường các công nghệ tiên tiến.
Để thích ứng với bối
cảnh trên, các nước phát triển đang điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ
thân môi trường; đẩy mạnh chuyển giao những công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên
liệu, năng lượng, gây ô nhiễm cho các nước đang phát triển. Nhiều nước đang
phát triển dành ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tăng mức
đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, nhất là một số hướng công nghệ cao
chọn lọc; tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - truyền thông; nhằm tạo lợi thế
cạnh tranh và thu hẹp khoảng cách phát triển.
b) Xu thế toàn cầu hoá
và hội nhập quốc tế
Xu thế toàn cầu hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng. Đây vừa là quá trình hợp tác để
phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để bảo vệ lợi ích quốc gia.
Để tồn tại và phát triển
trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, những yêu cầu về tăng năng
suất lao động, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới
công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý, đang đặt ra ngày càng gay gắt
hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, các thành tựu to lớn của
công nghệ thông tin - truyền thông, xu hướng phổ cập Internet, phát triển
thương mại điện tử, kinh doanh điện tử, ngân hàng điện tử, Chính phủ điện tử,
v.v... đang tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới của các quốc gia và từng doanh
nghiệp.
Đối với các nước đang
phát triển nếu không chủ động chuẩn bị về nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở hạ
tầng thông tin - viễn thông, điều chỉnh các quy định về pháp lý, v.v... thì
nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao đổi quốc tế là
điều khó tránh khỏi.
2.2. Bối cảnh trong nước
Sau hơn 15 năm đổi mới,
nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, làm nền tảng cho giai đoạn phát
triển mới: nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, liên tục; tình hình chính trị,
xã hội ổn định; xu thế dân chủ hoá, xã hội hoá ngày càng mở rộng; đời sống nhân
dân được nâng cao rõ rệt; quan hệ hợp tác quốc tế được cải thiện.
Đại hội Đảng lần thứ IX
tiếp tục khẳng định con đường đổi mới theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020; chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế, cam kết thực hiện các thoả thuận trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, tích cực chuẩn bị tham gia WTO; tăng cường đổi
mới khu vực kinh tế quốc doanh, phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích khu
vực dân doanh, hỗ trợ mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ; đẩy mạnh cải
cách hành chính, v.v...
Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta đã xác định mục tiêu phát triển tổng
quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người,
năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng,
an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng
cao.
Trong bối cảnh đó,
KH&CN có nhiệm vụ cung cấp kịp thời luận cứ khoa học cho các quyết sách
quan trọng của Đảng và Nhà nước; đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả
và sức khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng các mục tiêu chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010.
2.3. Cơ hội và thách
thức
a) Cơ hội
Đảng và Nhà nước luôn
coi trọng sự nghiệp phát triển KH&CN, Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng
định phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng và động lực cho CNH, HĐH đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu
hoá kinh tế, với đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, nước ta
có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức khoa học, công nghệ, các nguồn lực và
kinh nghiệm tổ chức quản lý tiên tiến của nước ngoài để nhanh chóng tăng cường
năng lực KH&CN quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tận dụng những thành tựu
của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, nước ta có thể đi thẳng vào những công
nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình CNH, HĐH và khoảng cách phát triển kinh tế
so với các nước đi trước. Với tiềm năng trí tuệ dồi dào, nếu có một chiến lược
phát triển nguồn nhân lực đúng đắn, nước ta có thể sớm đi vào một số lĩnh vực
của kinh tế tri thức.
Quá trình đổi mới đất
nước đã tạo ra những tiền đề mới cho sự phát triển KH&CN của nước ta trong
thời gian tới. Nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong
thời gian qua là điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư cho phát triển KH&CN,
đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng dụng thành tựu KH&CN trong nền
kinh tế, nhất là trước sức ép về cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và
quốc tế.
b) Thách thức
Trong bối cảnh phát
triển năng động và khó dự báo cả về KH&CN và kinh tế của thế giới hiện đại,
khả năng nắm bắt thời cơ và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài tuỳ thuộc nhiều
vào trình độ và năng lực KH&CN của quốc gia. Thách thức lớn nhất đối với sự
phát triển KH&CN nước ta hiện nay là phải nâng cao nhanh chóng năng lực
KH&CN để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn, trong điều kiện nước ta còn
nghèo, vốn đầu tư hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế và KH&CN còn có
khoảng cách khá xa so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực.
Trong xu thế phát triển
của kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ
dần nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, có
năng lực sáng tạo. Nước ta nếu không sớm chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng lao động thì sẽ không có khả năng
cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên
tiến từ bên ngoài.
Trong quá trình hội nhập
quốc tế về kinh tế và KH&CN, nước ta đang đứng trước những khó khăn về
chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về kinh tế, thương mại, tài chính,
ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v... phù hợp với thông lệ quốc tế. Tình trạng này
nếu không sớm vượt qua sẽ cản trở sự thành công của quá trình hội nhập khu vực
và quốc tế.
Trước những cơ hội và
thách thức trên đây, nếu không có những quyết sách đột phá về đổi mới thể chế
kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những biện pháp mạnh mẽ tăng cường
năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt hậu kinh tế và KH&CN ngày càng
xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào nguồn công nghệ nhập là khó tránh khỏi.